Hiển thị các bài đăng có nhãn HÀ NỘI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn HÀ NỘI. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 10, 2008

HÀ NỘI - ẨM THỰC

Xôi cốm chào thu!

Hà Nội vào thu mang theo hương cốm nồng nàn. Những món ăn làm từ những hạt cốm căng mùi nếp mới lúc nào cũng thu hút người thưởng thức. Xin giới thiệu với các bạn một món ăn đặc trưng làm từ cốm - Xôi cốm.

Mấy năm gần đây, trên đường phố Hà Nội xuất hiện thêm những gánh, những hàng xôi vô cùng đặc biệt. Xôi không được đựng trong thúng, ủ nóng mà được trải trên những chiếc mâm nhôm, tầng tầng lớp lớp, đủ màu sắc. Đó là xôi cốm....

Xôi cốm muốn ngon phải làm từ những hạt cốm xanh non, thơm dẻo nổi danh của làng Vòng. Để có được những hạt cốm dẻo, mềm, người trong nghề phải gặt từ lúc lúa nếp đơm bông còn ngậm sữa, đem về tuốt hạt, sàng sẩy bỏ hạt lép, hạt kẹ, rồi đem đãi sau đó hong khô. Xôi cốm vẫn còn là một món ăn mới, lại khá khó làm nên chưa được nhiều người biết tới. Hàng ngày, lác đác, bên góc phố nhỏ, những hàng xôi được các bà các chị bày bán một cách khiêm tốn. Nhìn qua lớp nylon trong suốt bao bọc quanh mâm xôi, thấy thấp thoáng màu xanh non của những hạt cốm, màu vàng ươm của đỗ, màu vàng sẫm của hành khô phi mỡ và màu trắng sữa của những sợi dừa, chẳng ai nỡ đi qua khi chưa kịp dừng xe mua cho mình một gói nhỏ....

Vị xôi cốm rất lạ, vừa có mùi vị xôi vò, xôi dừa, vừa có vị thơm bùi của bánh đậu xanh và thêm độ giòn tan của hành phi ngầy ngậy mỡ, ngòn ngọt của đường kính. Song hương vị đặc trưng là mùi thơm nhẹ nhàng và dịu mát của những hạt xôi cốm căng tròn. Cộng thêm mầu xanh non của cốm, mầu trắng ngà của hạt sen, điểm xuyết lấp ló mầu trắng sữa của dừa trông thật hấp dẫn. Mùi ngan ngát của hương lúa nơi đồng quê bay thoang thoảng đâu đây. Xôi cốm có vị đậm đà, bùi bùi, béo ngọt, khi ăn có chút sậm sựt nhẹ của những sợi dừa... Thưởng thức một lần là nhớ mãi.

Xôi cốm là món ăn tổng hợp nhiều hương vị nhưng không hề hỗn tạp và đã trở thành món ngon rất đặc sắc và tinh tế. Người ta đã khéo kết hợp đặc trưng nhiều nguyên liệu được chọn lọc với một kỹ thuật chế biến thích hợp, để tạo nên một hương vị xôi cốm: giòn, thơm, ngọt, ngậy, bùi…

Mùa thu sẽ càng trở nên mềm ngọt hơn với món ăn được chế biến từ những hạt cốm xanh mượt mang sự tinh hoa đất trời.



Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

HÀ NỘI - ẨM THỰC

Đậu Phụ nướng - Níu tình người Hà Nội
Trong mỗi buổi cơm mai hay cơm chiều, người ta thường chọn đậu phụ làm món chủ đạo cho bữa ăn gia đình.Đậu phụ trong bữa ăn thường là rán, luộc hay kho thịt, rim tiêu... Mỗi món ăn đều có những gia vị và cách chế biến khác nhau làm nên khúc biến tấu đầy sắc màu của thức quà dân dã và bình dị này.
Dẫu vậy, người Hà Nội vẫn nặng lòng với một món cũng làm từ đậu phụ nhưng mang hương vị quen mà lạ: đậu phụ nướng. Ngay từ trong cái tên thô mộc ấy, thực khách đã cảm nhận cả cái ấm nóng, cái vồn vã và bình dân không lẫn vào bất kỳ món ăn nào.
Buổi tối, lang thang trên phố Bạch Mai hay những con hẻm sâu hun hút ở hút làng Mai Động nghe tiếng từng tốp trai thanh, nữ tú gọi từ một quán nhỏ với vài sập ghế bên vỉa hè cái tên quen “đậu phụ” nhưng đầy lạ lẫm với động từ “nướng”. Khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng: “Đậu phụ, sao mà nướng được?” Điều tưởng chừng lạ lẫm ấy tạo nên duyên để níu chân người khách lạ. Đâu đó trên những con phố, ta sẽ bắt gặp hình ảnh thân quen của bà già gánh một bên là cái chậu sành, bên trong nóng ấm với tro bếp và phủ trên là than hoa cháy rực rỡ, còn một bên là cái thùng ngâm đậu phụ sống trong nước. Khi có khách gọi, bà hàng “đậu phụ nướng” dừng bước chân, dỡ trên vai gánh hàng rong đặt nhẹ xuống đất, sắp sắp vài chiếc ghế con xung quanh, mâm ăn đặt trên cái thùng đựng đậu. Trên mâm là bát mắm tôm đã vắt chanh, được quấy sủi bọt thành dạng kem, mềm và xốp, một đĩa nhỏ rau kinh giới đã rửa sạch, vài quả ớt xanh đỏ, cay nồng và không thiếu một đĩa gia vị muối chanh cho những khách không quen ăn đậu phụ với mắm tôm.

Một bếp than hồng nho nhỏ, một bà hàng gầy gầy một bên tay cầm chiếc quạt nan nhè nhẹ làm hồng những hòn than đang ngủ, tay kia trở những bìa đậu cho đến khi vàng, khách gọi thì nhấc ra khỏi vỷ nướng, đặt nhẹ nhàng trên chiếc đĩa sứ trắng tinh. Khách ẩm thực nhìn nhau trầm trồ tán dương cái vị không dễ quên ấy, ấm nóng thấm sâu đến tận con tim. Thú thưởng thức đậu phụ nướng phải dùng tay để bẻ từng miếng đậu, quệt ngang trên mặt bát mắm tôm xinh xinh, rồi tay kia nhón vài cọng kinh giới, cắn một miếng ớt bỏ vào miệng cay nồng, chao ơi, đấy mới là “cực điểm” của cái ngon. Đối với khách là những đấng nam nhi, sẽ thú hơn nếu trước mỗi miếng đậu không quên làm một “tợp”rượu, cái ngất ngây của men say, ấm nóng và cay nồng của ớt, cái thơm, bùi béo của đậu sẽ làm ấm lòng người trong cái lạnh của gió đêm thu hay ngày đông trở mìnhĐậu phụ ngon thường là đậu Mơ -thứ đậu lưỡi mèo đem theo cái tinh khiết của nước giếng chùa. Khu vực làng Mai Động, Hoàng Văn Thụ xưa là xứ “kẻ mơ” thường có thú đãi khách bằng “đậu phụ nướng” và “nước đậu”(đậu tương xay, lọc lấy nước, cho chút muối rồi đun sôi). Những gia đình làm đậu để bán, mỗi sáng tinh mơ đi chợ, các bà đều không quên để lại cho chồng một vài bìa đậu bắt mắt nhất, ngâm trong nước đun sôi để cho cánh đàn ông nướng nhắm rượu và cũng không quên để phần một bát nước “đậu xay” để làm giã rượu và thỏa mãn cái thú ẩm thực bình dân.

Món quà dân dã ấy gởi lại trong lòng người Hà Nội bao điều nhung nhớ mỗi tiết thu hay khoảnh khắc sang Đông. Một thứ quà dân dã làm ấm tình nhau…để rồi khi chân bước qua những con phố như Hoàng Văn Thụ, Bạch Mai, Hai Bà Trưng…, lòng lại thầm gọi tên “đậu phụ nướng”.



Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

HÀ NỘI - XƯA & NAY

Hà Nội, vì sao có những tên phố “lạ”?
Từ 36 phố phường đến nay, sau 50 năm giải phóng, Hà Nội đã phát triển lên tới khoảng trên dưới 500 phố. Con số không nhỏ.

Thông thường người ta chia ra làm ba khu vực: Khu phố cổ có từ thế kỷ trước còn lại. Khu phố cũ được xây dựng từ đầu thế kỷ 20, còn khu phố mới bắt đầu từ năm 1954, sau ngày giải phóng. Chúng ta quen với các phố có chữ “Hàng”, tên các danh nhân… Tuy quen đấy, nhưng nhiều dòng tên cũng đáng để hiểu thêm mà yêu quý một Hà Nội với hình hài 10 thế kỷ, nhiều điều vừa quen vừa lạ.

Hàng Ngang là gì? Có món ăn nào, món hàng hóa nào tên là Ngang, hay ở đấy mọi ngôi nhà đều xây ngang, mọi con người đều đi ngang (kiểu con cua)?

Nguyên vài ba thế kỷ trước, từ thời Phạm Đình Hổ còn ngôi nhà mình ở Phương Hà Khẩu tức Hàng Buồm nay, ông đã ghi lại. Thăng Long có phố người Trung Hoa, mà lúc ấy mọi người phương Bắc bất cứ là người Hán, ở Quảng Đông, Phúc Kiến… đều được gọi là người Đường, tức Đường Nhân, người Pháp dịch chữ đó thành người Quảng Đông, tức là Cantonnais, và giọng nói nơ nớ mà thành “Ngang”.

Cũng có thuyết giải thích: Thời đó, phố này có cái điếm canh nằm ngang nơi đầu phố nên gọi là Hàng Ngang. Nhưng nghe không ổn, vì cũng có một phố nữa có cái đình nằm ngang đầu phố như thế, từng có ngôi nhà của Cao Bá Quát một danh sĩ lừng danh, phố ấy nay còn có tên cũ: Phố Đình Ngang.

Hà Nội vẫn còn phố Hàng Chuối. Phố này buôn chuối thời kỳ nào? Thưa không. Đây là khu bãi hoang. Cho đến những năm 20 của thế kỷ 20 còn hoang vắng lắm, đó chỉ là bãi trồng chuối cho quân lính nuôi voi. Người Pháp mở mang phố, lấy luôn bãi đó mà thành tên.

Nhưng có một phố theo thông lệ, bán mặt hàng đó mà thành tên như Hàng Buồm bán vỉ buồm, Hàng Giấy bán giấy, Hàng Bồ bán bồ… thì Hàng Cỏ chính là bán cỏ. Nay Hàng Cỏ là phố Trần Hưng Đạo, mà tên đầy đủ đáng lẽ phải gọi là: Tiết chế quốc công Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Nguyên phố này khi chưa có đường rộng, chưa có nhà ga xe lửa, còn là bãi trống, ngày ngày dân ngoại ô mang cỏ vào đây bán. Các chú lính trong thành ra mua về để nuôi voi nuôi ngựa. Tiếc là Hàng Cỏ ghi lại một thời, nay đã biến mất tên.

Hà Nội có một phố nằm hơi chéo trục Bắc Nam, đó là phố Nhà Hỏa. Tên hơi lạ. Nguyên là Hà Nội từ trước đến thế kỷ 19, nhà cửa đều làm bằng nguyên vật liệu thô sơ, dễ cháy như tre gỗ nên hỏa hoạn xảy ra thường xuyên. Có những đám cháy lớn, thiêu trụi hàng nghìn nóc nhà trong chốc lát, người ta phải lập miếu thờ thần hỏa mong thần phù hộ dân chúng không cho cháy. Ngôi miếu thờ ấy lọt vào cái khe nhỏ, ở quãng số 28 phố Hàng Điếu, mà thủa ấy, miếu thờ có ảnh hưởng ra cả khu vực, trong đó có phố Nhà Hỏa hiện nay, mà thành tên một đường phố.

Hồ Thiền Quang là một hồ đẹp. “Thiền quang” nghĩa là ánh sáng nhà Phật. Người Pháp đặt tên viên thị chính Pháp là Halais (người dân thường đọc là Ha-Le, trong tiếng Pháp, chữ “H” câm, đọc đúng phải là A-Le).

Sau giải phóng, tên chính thức là phố Nguyễn Du. Cái tên Ha-Le chỉ nhắc lại một thời mất nước, một thời nô lệ, vậy mà không hiểu tại sao nay lại nảy ra một câu lạc bộ kèm theo nhà hàng ăn uống và nhảy đầm (có lúc bị công an rút giấy phép) lấy tên cũ, tên của thực dân làm tên nhà hàng mình?

Khu vực nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo một thời thịnh vương, nhân dân quen gọi đây là khi Nhà Diêm, vì trước đó, có nhà máy sản xuất diêm cho toàn xứ Đông Dương. Nhưng trước đó nữa, những thế kỷ trước, đây từng là đàn Nam Giao, xuân thu nhị kỳ, Nhà vua từ trong Cấm thành ra đây làm lễ tế trời đất. Trước khi đến đàn Nam Giao, nhà vua còn phải rẽ vào phía sau thôn Hương Viên thay đổi quần áo. Chỗ ấy có tên là đổi mã (thay cái mã bên ngoài- tiếng cổ) và dần dần, nó thành phố Hòa Mã đến nay. Hương Viên chính là chỗ chợ Đức Viên bây giờ.

Hàng Đào buôn bán vải vóc tơ lụa. Nhưng kèm thêm nghề nhuộm, mà chỉ nhuộm màu tươi như đỏ, vàng, hồng… vì thế mới có tên Hàng Đào. Nối với nó là Hàng Ngang tên cũ gọi theo người nhuộm, chuyên nhuộm các mầu như thanh nhẹ, như xanh, lam, da trời, hồ thủy, vì thế Hàng Ngang từng có tên là Hàng Lam. Những màu khác lại phải nhuộm ở nơi khác. Vải đen nhộm ở phố Hàng Vải Thâm gần đó. Vải nâu nhuộm ở làng Đồng Lầm, quãng làng Kim Liên ngày nay, nổi tiếng về vải màu nâu may áo dài phụ nữ Hà thành nhiều thế kỷ. Riêng ngôi đình phố Hàng Vải Thâm thông thường có hàng nem rán nhân cua bể ngon nổi tiếng, chỗ ngồi xuềnh xoàng nhưng món thì thiệt ngon nên khách đông nghịt.

Một trong các chợ khá to là chơ Mơ. Tên ấy vì sao mà có? Nguyên có chợ Hôm phía trên, bắt đầu đường thiên lý vào Nam, chợ Hôm bị đuổi dạt xuống phía nam là chợ Đuổi. Còn chợ Mơ xây mới nên gọi là chợ mới Mơ. Mơ là tên gọi của quả mai. Khu vực này là đất trồng mai, đất phong của tướng Trần Khát Trân đời nhà Trần, có các làng thanh mai, hồng mai, hoàng mai có thứ quả mơ ngon nổi tiếng, rượu mơ cũng là đặc sản kinh kỳ. Thời Nguyễn kiêng tên húy của vua Tự Đức là Hồng Nhâm nên các chữ tên hồng cũ phải đổi. Khu vực hồng mai thành Bạch Mai, cả làng nay đã biến thành phố. Chợ ngày càng mở rộng, Hồng Mai chỉ còn trong trí nhớ của người già.

Liệu chúng ta có thể giữ gìn một Hà Nội hào hoa, với những dòng tên thật đặc biệt mang theo bao dấu ấn của nhiều thời đại đã qua?
Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

HÀ NỘI - ẨM THỰC

Bánh bèo, bánh bột lọc, bánh nậm, bún bò Huế, Bún hến…những món ăn nghe rất thân thuộc với người dân xứ Huế và với thực khách trên cả nước. Nhưng để thưởng thức sự tinh tế, chuẩn mực của những món ăn này không phải tại bất cứ nơi đâu chúng ta cũng dễ dàng được trải nghiệm.

Với sự cảm nhận tinh tế của người dân Hà Thành, các món ăn Huế luôn luôn để lại ấn tượng thật sâu sắc. Đặc thù của các món ăn này là các món bánh được trang trí giản dị trên những chiếc mẹt và lá chuối. Hòa quyện với mùi thơm thoang thoảng của lá chuối, các loại bánh này thể hiện sự dân dã của người miền Trung nhưng đem lại sự ngon miệng tinh tế cho người thưởng thức. Nổi bật là sự chế biến tài tình giữa các vị tôm và thịt làm cho các loại bánh thơm ngon nhẹ nhàng tại nhà hàng Song Hương.

Bánh bột lọc

Bánh bèo tôm tươi

Không chỉ có vậy, nhà hàng Song Hương còn giới thiệu đến thực khách các món như Bún bò giò heo, Bún giò nạc, Bún giò bò, Bún bắp bò, Bún chả cua… Được nấu cùng các loại mắm nêm của miền trong, nước dùng của bún cho thấy sự khác biệt của khẩu vị giữa các vùng khác nhautrên đất nước ViệtNam.

Bún chả cua

Các món cuốn ăn kèm với rau như rau thơm, dứa, quả vả, rau cải mơ… thực khách sẽ được thưởng thức các món cuốn khác nhau với nước chấm được tinh chế đặc biệt xuất xứ từ Huế. Với món cuốn Huế, thực khách sẽ được thưởng thức vị mắm tôm chua, cay cay, thơm mùi gừng và nước chấm pha chế đặc biệt từ tương dùng với món cuốn diếp.

Cuốn diếp

Cuốn Huế

Nổi tiếng với món gỏi vả, gỏi mít non trộn, hến xúc từ xứ Huế, Nhà hàng Song Hương cũng xin được giới thiệu tới

người dân Hà Thành như là các món khai vị mỗi khi dùng bữa. Nếu như Hà Thành thường dùng gỏi với trái xung thì xứ trong dùng gỏi với trái vả xanh non, trái mít vị chan chát và hến trộn bé li ti đi kèm với bánh tráng mè.

Gỏi vả trộn

Điểm tạo nên sự khác biệt lớn nhất với các nhà hàng tại Hà Thành, Nhà Hàng Song Hương còn có sự đặc trưng của các loại chè xứ Huế dùng sau mỗi bữa ăn. Chè khoai tím, chè hoa cau, chè sen…đem lại sự ngọt ngào cuối cùng của nhà hàng tới thực khách trước lúc ra về.

Chè khoai tím

Nhà hàng Song Hương rất hân hạnh được đón tiếp quý khách với các món ăn được coi là sắc mầu ẩm thực của xứ Huế tại 56 phố Cửa Bắc, Ba Đình, Hà Nội.

Thông tin cho bạn:

Nhà hàng Song Hương

Địa chỉ: Số 56 phố Cửa Bắc - Ba Đình - Hà Nội

Điện thoại: 04.7152887

Email: Songhuong56@gmail.com Địa chỉ email này đã bị khóa bởi máy chặn spam, bạn cần bật JavaScript để xem

Website: www.songhuong56.vn

www.songhuong56.com



Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

HÀ NỘI - XƯA & NAY

Mái nhà Hà Nội

Hà Nội có khu 36 phố phường là di sản cần gìn giữ. Không gian cổ kính nhấp nhô sóng mái mang dấu ấn quá khứ buổi đầu hình thành đô thị, mất đi không thể có nữa. Một trong những vẻ đẹp vô giá là ở những mái úp nhỏ bé, rêu phong nhấp nhô sóng mái quyến rũ, đi vào lòng cái hồn cổ kính như tỏa lên từ những lô xô đậm dấu thời gian.

Hãy thử từ một điểm cao nào đó, nhìn ngắm tầng tầng “sóng mái” lô xô của Hà Nội xưa. Thử tước bỏ những gì mới xen cấy, chèn ép thêm, có phải những sóng mái ấy cứ tự nhiên mà thành nhịp, thành điệu, chẳng do một nét bút quy hoạch nào, vậy mà uyển chuyển, thấm vào lòng người.

Vào những năm 20-30 của thế kỷ trước, ra đời một loạt các kiến trúc mà ngày nay chúng ta gọi là phong cách Đông Dương. Nổi bật của phong cách này là hệ thống mái ngói dốc nghiêng.

Thử lấy một tác phẩm được thử thách qua gần 3/4 thế kỷ, công trình Bộ Ngoại giao hiện nay trên đường Điện Biên Phủ (Hà Nội) mà tác giả chính là Ernets Hebrart, kiến trúc sư người Pháp rất có công với kiến trúc, văn hóa Việt Nam. Công trình 2 tầng và tầng hầm có hệ thống mái ngói phong phú: mái bát giác trên các tháp, nhô lên trên mái lớn thân nhà. Mái nhỏ trên cửa mái, trên cửa sổ tầng 2, mái đầu hồi, các mái hắt nhỏ, mái “chồng diêm” thông gió tốt, tránh mưa tránh nắng, cản nhiệt cao... kết hợp khéo léo thích dụng và thẩm mỹ. Rất Việt Nam.

Cùng với đổi mới, kiến trúc bung ra, cái mái dốc lại có chỗ đứng. Nhà thấp tầng, nhà cao tầng, nhà ở riêng lẻ, công thự quốc gia. Mái ngói dốc nghiêng chen nhau xuất hiện. Chỗ thì điểm xuyết thanh thản ung dung, chỗ thì tầng tầng lớp lớp, chen vai thích cánh. Ngói đất nung thô sơ trên bộ kèo gỗ đã nhường chỗ cho phần lớn là bê tông cốt thép. Thường thì ngói “Tây” bằng đất nung, sang hơn thì ngói giếng đáy hình vẩy cá, thậm chí cả lưu ly men gốm. Độ dốc không còn theo một khuôn khổ quen thuộc, chỉ hơi chênh chếch làm duyên mà cứ úp chụp như chiếc nón và cả như là dựng đứng. Hệ thống mái dốc nghiêng, nhanh chóng đi vào lòng người, không chỉ công trình thấp tầng, mà cả mấy chục tầng. Có tới hơn nửa số lượng tác phẩm được giải thưởng kiến trúc là có mái dốc nghiêng kể cả là chung cư cao tầng. Một khách sạn do chính người Pháp thiết kế tại vùng núi phía Bắc cũng có mái ngói (được giải thưởng kiến trúc 1998).

Khắp không gian Hà Nội, từ ngõ nhỏ chật hẹp đến đại lộ mới mở, từ quận Hoàn Kiếm đông đúc đến Nhật Tân rực đỏ hoa đào, Võng Thị mênh mông bát ngát Hồ Tây, mái ngói các kiểu ngày nối ngày đua nhau bùng nổ. Thôi thì đủ cả, thế giới có gì ta có nấy.

Có thể kể vài thí dụ bắt chước rất kệch cỡm. Mái vòm thấp khum khum cái lớn cái nhỏ trên nóc Nhà hát Lớn, cũng được vài ba ông chủ bê nguyên dạng vào ngôi nhà ở của mình. Góc tường Phan Chu Trinh - Trần Hưng Đạo đang là thí dụ “sáng giá”. Kia là nhịp điệu cổ kính có vòm mái lớn có vòm mái nhỏ, đây chỉ là một vài vòm tháp lạc lõng.

Ngay các nước sát cạnh ta, vốn xưa gọi là “Xứ Đông Dương” vẫn không ít mái dốc nghiêng với những đặc điểm mà chỉ thoáng qua đã thấy ngay văn hóa truyền thống Campuchia, Lào.

Mái nhà Việt Nam xưa, nhìn từ mặt chính ta thấy rẻo mái dốc thẳng lên từ mái chính và gặp bờ nóc, ta thấy rẻo mái dốc thẳng, sau chếch sang nhập với mái hồi. Nhìn từ đầu hồi nhà thấy một tam giác tạo bởi hai đường rẻo mái và đường nằm ngang của mái hồi. Tam giác này gọi là “vỉ ruồi”, (vì nó giống cái vỉ đập ruồi). Văn hóa Việt Nam, cấm kỵ tam giác này quay thẳng ra mặt chính. Tiếc thay, nhiều công trình cứ cho cái tam giác này phơi ra mặt chính nhà, đập thẳng vào mắt mọi người. Rất dung tục! Cũng đừng dại dột đưa mái “củ hành”, đặc trưng Hồi giáo, chỉ là phô trương lạc lõng, chứ không thể gọi là độc đáo!

Mái nhà trước hết để che mưa, chắn nắng, chống nóng, cản lạnh, không thể “chơi mái” như trò chơi điện tử!

Những tam cấp “cửu trùng đài” như mấy công trình mới xây ở Hà Nội: Nhà UBND quận Ba Đình (Liễu Giai), nhà chiếu bóng Quốc gia, Tổng công ty thép Việt Nam (Láng Hạ)... Khiến người ta choáng ngợp về những bậc lên đồ sộ, khó có thể gắn vào cái mái duyên dáng Việt Nam. Đưa cái mái ngói “nghiêng nghiêng” ấy vào nhà cao tầng có thể ví như “mặc quần Tây, đội khăn xếp”.

Ngày nay xây nhà cao tầng và sắp tới sẽ “chọc trời” (thường là 40 tầng trở lên) có mái bằng, có mái dốc, nghĩ chẳng thể áp đặt. KTS Nguyễn Thanh Sơn đã đề nghị, khi tìm hình thức cho mái nhà, không chỉ quan hệ mật thiết với mặt đứng, phong cách kiến trúc, vật liệu, kết cấu... không thể quên tầm nhìn, cảnh quan khu vực, nhịp điệu đường phố, kiến trúc đô thị phô diễn hình khối, vật liệu.

Cũng có kiến trúc sư đề nghị, mái nhà không còn chỉ đơn thuần là cái mái. Có thể tổ chức trên mái nơi sinh hoạt câu lạc bộ, trồng cây, nuôi động vật nhỏ, tạo nên môi trường giao tiếp, cải thiện điều kiện sinh thái, hòa vào thiên nhiên, không nên bỏ phí không gian này.

Nói đến mái nhà Việt Nam - như một biểu tượng văn hóa truyền thống, nên nói chút ít đến đặc điểm mái cong. Mái lợp ngói dốc nghiêng nghiêng, nơi 2 mái tiếp giáp nhau, rẻo mái ấy cong hớt lên ở diềm mái, gọi là “Đầu đao lá mái”. Cố kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện gọi bằng thuật ngữ “Nở hoa đào”.

Truyền thống không phải là di tích của quá khứ hay là biểu hiện nào đó do ta tự sáng tạo ra, mà phải được sàng lọc, thử thách lâu dài, nói cách khác được các thế hệ chắt lọc... Bộ mái nhà đã được ông cha ta chọn lựa và chúng ta tiếp tục lựa chọn, tuân theo trí tuệ và gắn liền với đời sống - Chỉ chọn lựa những gì tốt nhất, đẹp nhất, đồng nghĩa với cái đã được ông cha chọn lựa và tiếp tục đúng với cái mà chúng ta đang chọn lựa. Thiếu tính toán, thích “chơi trội”, chọn lựa sai lầm đều có thể trở thành lực cản, kìm hãm, làm chệch hướng phát triển, cho nên hãy thận trọng.

Không ít thí dụ kiến trúc sư “chơi mái” chồng chất mái lớn, nhỏ, cao thấp, tròn dài... như học đòi nghệ thuật “xếp đặt”.

Kiến trúc phương Tây (và cả ở Việt Nam hiện nay) rất quan tâm đến mặt chính nhà, nhưng kiến trúc Việt Nam lại hầu như không có khái niệm này. Yếu tố tạo hình quyết định tới hình thức kiến trúc chính là bộ mái. Không chỉ giải quyết tốt sinh thái, khí hậu ngôi nhà, còn kết tinh thẩm mỹ: “Cái thần của kiến trúc cổ Việt Nam là ở mái”. Đỉnh cao, cái hợp lý, cái đẹp của kiến trúc cổ Việt Nam nằm ngay bên trong các thể loại mái.

Cho nên, tất yếu với kiến trúc hiện đại Việt Nam phải dày công nghiên cứu, thể nghiệm để bằng vật liệu mới, cách nhìn mới, bộ mái có vị thế xứng đáng.

Thực ra, thế hệ cha anh chúng ta đã có cách ứng xử rất văn hóa.

Tuy nhiên, thời kỳ ấy chúng ta xây dựng chỉ 2, 3 tầng, quy mô công trình không lớn. Còn ngày nay đồ sộ hơn nhiều lần cả khối tích và chiều cao. Sự lựa chọn, sự vận dụng đặc điểm nào của bộ mái truyền thống để được thừa nhận là giàu bản sắc. Mặc dù đã có một số thành công như Nhà ga T1 hàng không Nội Bài, một số nhà làm việc, biệt thự.

Cái mái nhà Hà Nội, mái nhà Việt Nam, quả thật lắm chuyện để bàn, để cãi. Hiện đại và truyền thống, dân tộc và quốc tế, khu vực và toàn cầu, hòa nhập và hòa tan. Lý lẽ cũng lắm. Thực hiện cũng nhiều. Điều quan trọng nhất là để sao cho ra một phong cách Hà Nội, phong cách Việt Nam.


Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

TẢN MẠN - HÀ NỘI

Mùa thu Hà Nội

Đã qua tiết lập thu, thế mà cái nắng vẫn thật gắt gao. Nhưng rồi bất chợt, người ta cảm thấy những làn gió heo may, nhẹ lắm, thoảng qua vai áo.

Buổi sớm, nếu đi ngang qua Hồ Tây, sẽ thấy sương mờ giăng trên mặt hồ. Tiếng chiu chít của một loài chim nào đó, tưởng như có một bầy sâm cầm đang vỗ cánh đâu đây. Bỗng nghe cảm giác se lạnh và hanh hao mơ hồ. Mới ngỡ ra, thu đã đến.

Vào các buổi sáng, người ta lại thấy những gánh hàng rong đi thong dong trên vỉa hè. Những người phụ nữ còn mang đậm nét thôn quê, từ cách ăn
mặc, đi đứng đến giọng cười, tiếng nói... như nét chấm phá thêm cho bức tranh Hà Nội đầu thu. Họ gánh những thứ quà của mùa thu mà nhà văn Vũ Bằng trong “Thương nhớ mười hai” đã gọi là “Thời trân”. Đó là cốm Vòng, là hồng mọng, là chuối trứng quốc, là bưởi đào....

Trên những con phố cổ, những gánh hàng rong chẳng cần phải nhiều lời. Tiếng rao dường như cũng khẽ khàng, thanh nhàn hơn. Chỉ cần thấy một cô hàng rong thong thả với đôi quang gánh hầu như nhẹ bỗng, buộc một nắm rơm nếp còn xanh ngọn, đôi thúng phủ dăm chiếc lá sen, thế là biết hàng cốm tới. Còn gánh hồng thì không ai muốn bỏ qua bởi màu đỏ mọng trông thật ngon mắt. Loại hồng này có sớm hơn hồng ngâm của Lạng Sơn. Vị ngọt mát của nó cũng khiến nhiều người ưa thích. Rồi hàng chuối đã bắt đầu lấm tấm trứng quốc mà người Hà Nội vẫn thường ăn cùng với cốm vòng, món ăn không thể thiếu được mỗi độ thu về...

Chỉ ít hôm nữa thôi, lá sấu, lá cây cơm nguội, xà cừ...sẽ lại rơi đầy trên mái phố. Đêm đêm, hương hoa sữa lại nồng nàn như bao mùa thu đã qua...


Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2008

HÀ NỘI - XƯA VÀ NAY

Sông Hồng Hà Nội


songhong_2.jpg (16759 bytes)

Sông Hồng
Photo: Hồng Trọng Mậu

Sông Hồng mang đặc tính của từng mùa: khi trong, khi đục. Có người bảo sông Hồng mùa nào cũng đục. Nếu nói như ai đó thì quả là người ấy chưa biết sông Hồng, mới biết qua cái tên của nó. Sông Hồng cuối mùa đông và giêng hai về mùa xuân nước cũng trong. Nhưng chất lượng nước trong sông Hồng Hà Nội không giống bất cứ nước trong của một dòng sông nào. Khi đỏ chói như pha son về mùa lũ, khi phớt hồng như hoa đào về mùa thu, khi mang màu vàng như hoàng hôn, như màu gạch của lũ sông Đà, sông Lô, sông Chảy trộn vào. Về mùa xuân, nước trong pha chút hồng nhẹ như má người con gái phớt nhẹ qua một chút phấn hồng. Ta phải lấy đôi bàn tay chụm vào nhau vục lấy vốc nước mới thấy cái màu đặc biệt không có ở bất kỳ một dòng sông nào. Sông mang tính dữ dội, hung hãn của mùa lũ, dáng lơ thơ, dìu dặt của mùa khô. Suốt cả một chiều dài của thành phố Hà Nội in bóng xuống dòng sông như một bức tranh hoành tráng vĩ đại.

Cuộc sống đời thường xô bồ, nhốn nháo, ít ai có một đôi lần ngắm dòng sông, ngắm cảnh sông mà cảm ơn ông cha ta đã có một tầm nhìn muôn đời, chọn vùng đất mở ra một kinh thành. Là người Hà Nội, ai đã có lần đứng bên này dòng sông ngắm sang bờ bắc và từ bờ bắc ngắm về Hà Nội, hay thong thả bước chân đi dạo trên mấy chiếc cầu để ngắm dòng sông? Phải chǎng cách nghĩ, sự thưởng ngoạn tao nhã không mất tiền mua, đó mới là sự giàu có của tâm hồn người Hà Nội thanh lịch.

Cụ Nguyễn Siêu, một thần thơ của thế kỷ trước, cảm xúc trước cảnh đẹp của Nhị Hà, hạ bút viết: "Tình khách chơi vơi bên bờ bắc. Mảnh trǎng lơ lửng phía đông dòng sông". Hai câu thơ trên, cụ Nguyễn như bảo với chúng ta; Phải từ bờ bắc mới thấy được, ngắm được toàn bộ kinh thành. Phải từ bờ bắc mới thấy được cảnh như hai câu thơ cụ viết tiếp: "áng mây rà thấp, bóng cây xa dòm nghiêng xuống nước. Bầu trời cao rộng lớn, ngồi lầu cao dễ chạm tới tầng xanh".

Còn bậc thánh thơ Cao Bá Quát, trong một buổi chiều tà đã phóng tầm mắt xem cảnh Nhị Hà, nhìn về Hà Nội: "Bức thành xây trên bụng rồng ngất trời hùng tráng. Dòng sông cuộn theo nước đỏ, thành làn sóng hoa đào....". Đọc thơ người xưa, đủ biết các bậc tiền danh nhân của đất nước không phải chỉ chú ý đến những cảnh đẹp của nội thành. Những hồ Tây, hồ Gươm, hồ Thiền Quang... Mặc dù người xưa đã có những bài thơ tuyệt bút về những cảnh đẹp những nơi ấy. Các cụ ta đã không quên dòng sông có "làn sóng hoa đào"! Thiên nhiên đã dành cho Hà Nội cả một dòng sông để con người xây nên những "lầu cao dễ chạm tới tầng xanh"...". Cha ông ta đã nhìn ra cái thế núi, hình sông, nơi "Rồng cuộn, Hổ ngồi (để) truyền lại cho con cháu muôn đời mai sau...", là chúng ta bây giờ được hưởng.

Quả vậy, nếu biết Hà Nội chỉ để biết cái đẹp trong nội thành, chưa một lần chiêm ngưỡng toàn cảnh sông Nhị với kinh thành, để thấy được tấm lòng và con mắt tinh đời của tổ tiên, phải chǎng cũng là có lỗi với người xưa lắm.

Lu-đê-mít, nhà thơ Hy Lạp, cách đây mấy thập kỷ, khi ông đến thǎm Việt Nam, lúc trở về nước đã gửi lại tấm lòng mình: "... Tôi quên sao được sông Hồng. Thêu sóng đỏ trên áo dài Hà Nội...". Phải chǎng thi nhân kim cổ đông, tây đã gặp nhau trong cảm xúc trước cảnh đẹp của Hà Nội và đặc biệt với sông Hồng Hà Nội.

Thủa sinh thời nhà thơ Quang Dũng, mặc dù đôi chân anh đã yếu vì cái bệnh thấp khớp quái ác, vẫn có những đêm trǎng dắt xe cùng nhóm nhà thơ đi bộ trên cầu Long Biên, về nhà một người bạn thơ bên bờ Bắc để được ngắm Hà Nội soi mình trên dòng sông Hồng. Anh nói với bạn "Không phải ngẫu nhiên mà vua Lý Thái Tổ dời đô về đây. Con mắt của nhà vua... (có lẽ Quang Dũng khó biết dùng chữ gì cho chính xác). Phải nhìn từ cái bờ bắc này mới thấy hết: Đêm trǎng-sông Hồng-thành phố. Trời! Tuyệt quá! Đúng là rồng đang lên!...". Mấy người bạn cứ ngồi lặng trong đêm nhìn về Hà Nội không biết chán. Suốt từ phía dưới cảng Vĩnh Tuy, phà Đen ngược lên Yên Phụ, cầu Thǎng Long. ánh điện lung linh, những ngọn đèn cao áp như những vì sao xanh, những ngọn đèn màu từ trong những cửa sổ nhà cao tầng, ngôi cao, ngôi thấp nhấp nhô như con rồng vàng uốn khúc đang bay lên. Những vì sao trên trời và đèn thành phố chen nhau dưới dòng sông như được làm bằng thạch đen. Những vì sao cho ta cảm giác đó là những bông hoa nhài thả bập bềnh trên sông, vầng trǎng là bông hồng vàng đang mở cánh. Ta như cảm thấy dòng sông thơm lên trong đêm, có thể bốc từng miếng thạch đen trong lòng bàn tay mà ǎn được. Và chất phù sa đang hoá thạch đen kia đang sóng sánh nâng lên, dập xuống những bông hoa là trǎng sao luôn luôn biến đổi khi tỏ, khi mờ bởi những áng mây ra thấp bị gió cuốn chuyển vận trên bầu trời.

songhong_1.jpg (15002 bytes)

Bến thuyền sông Hồng
Photo: Phùng Thanh Hùng

Thỉnh thoảng trên mặt sông lại xuất hiện một vài cánh buồn, cái ngược, cái xuôi theo dòng nước lấp loá trǎng sao và ánh điện. Những vì sao và những ngọn đèn rẽ ra cho thuyền đi, sau đó sao và đèn lại cuộn lên sau bánh lái. Mấy con thuyền nhà chài, ngọn đèn dầu le lói trong khoang, cắm sào nằm im lìm trên cồn cát giữa sông, gợi lòng những khách thơ bên bờ nhớ tới Bạch Cư Dị thuở nào trên bến Tầm Dương. Quang Dũng như người sống trong mộng. Anh ngồi lặng yên, mắt đǎm đǎm nhìn về Hà Nội. Bỗng anh thốt lên: "Thật kỳ ảo! Thành phố lung linh trên sông nước, chúng mình cứ như ngồi trong một đêm trǎng cổ tích...". Quang Dũng nói rồi cười. Có lẽ anh cười cái chất lãng mạn của mình.

Thế kỷ 21 đang tới. Thủ đô Hà Nội chúng ta đang chuẩ bị mừng tuổi thứ 1000 nǎm khai sinh ra Kinh thành Thǎng Long. Những phương án phát triển thủ đô sang bờ bắc sông Hồng đang còn nằm trong trí tuệ và tâm hồn, trái tim những con người yêu đất rồng lên. Sang thế kỷ sau ấy, không những sông Hồng mà cả một vùng sông Đuống sẽ nằm trong nội thành. Những phố phường ven những ngả sông Hồng, sông Đuống, ta chỉ hình dung ra trong trí tưởng tượng thôi, cũng đã thấy Hà Nội ngày mai là một bức tranh rực rỡ trong đầu. Hẳn những quãng sông sẽ mọc thêm những cây cầu mới, cho xe pháo đi về không phải đi vòng lên, vòng xuống những nẻo đường cầu xa nhau. Và những đêm trǎng, người bờ nam kẻ bờ bắc muốn dạo gót trên cầu ngắm cảnh trǎng sông thủ thỉ tâm tình cùng nhau, hẳn sẽ là cái thú của nhiều người.

Thanh Hào


Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

HÀ NỘI - XƯA VÀ NAY

Âm thanh Hà Nội



Photo: Hữu Cấy

Từ thuở ấu thơ, tôi tắm mình trong những âm thanh dịu ngọt, ru tôi vào đời: tiếng mẹ ầu ơ, tiếng võng đưa kẽo kẹt trưa hè...Lớn lên, đó là tiếng đàn bầu thánh thót như rót vào lòng một nỗi niềm sâu lắng, là tiếng sóng Hồ Tây lao xao vỗ nhẹ mạn thuyền trong chiều vàng nắng, có tiếng nàng dìu dịu như gió thoảng bên tai. Song ấn tượng sâu đậm nhất trong suốt tuổi thơ tôi đến tận bây giờ là tiếng tàu điện leng keng, tiếng chổi tre chị lao công quét rác, tiếng ông lão lảnh lót "phá sa" trong đêm khuya thanh vắng.

Ngày ấy, nhà tôi ở phố Tôn Đản. Một phố nhỏ yên tĩnh đến lạ lùng. Tiếng ve gọi hè da diết. Hàng cây xanh sum xuê toả bóng mát xuống mặt đường và những ngôi nhà rêu phong. Đêm khuya, chỉ có tiếng gió và ánh điện vàng hiu hắt. Cuối thu trời se lạnh. Nằm cuộn tròn trong chǎn ấm. Có tiếng ông lão bán lạc rang quen thuộc vǎng vẳng cất lên từ đầu phố. Một thứ âm thanh vang, trong kéo theo những âm cuối cùng của nó lan toả như réo rắt, như mời gọi, như thấm vào lòng người : "Phá sa". Nhưng nghe kỹ hình như thoảng trong đó ẩn chứa sự khắc khoải, chịu đựng, kiên nhẫn và mệt nhọc của một ông già. Nó cứ thấm vào lòng tôi như vị lạc rang tuyệt vời của ông: mặn, ngọt, thơm, bùi, béo quện vào đầu lưỡi mà thấm vào ruột gan. Ông chỉ đeo tòng teng một cái thùng gỗ. Lạc được gói trong những tờ giấy cuộn thành hình cái phễu. Mới cầm gói lạc, mùi thơm của húng lìu. Gói lạc ấm nóng giòn tan. Nhâm nhi hạt lạc, vǎng vẳng tiếng rao của ông xa dần xa dần. Tiếng rao "phá sa" còn níu giữ âm thanh chưa dứt hẳn trên cái cần đàn là phố tôi thì tiếng chổi tre quét rác của chị lao công đã rào rạt nổi dần lên dưới đường. Phố Tôn Đản nhiều cây. Thu về đông tới lá vàng bay lả tả. Những trận gió đầu đông như trút lá xuống đường. Gió cứ vô tình đùa với lá để tiếng chổi tre của chị cứ thốt lên "Rào...rạt". Chiếc chổi dài, mềm mại trong tay chị cần mẫn nhịp nhàng khoan nhặt. Lúc khoan "rào" lúc nhặt "rạt"... Khi chị nhanh tay chổi rào rạt rào rạt tưởng như những con sóng vỗ về bờ cát.

amthanh_2.jpg (27552 bytes)

Photo: Đinh Quang Thành

Đêm nào cũng vậy, lá còn rơi, chị còn quét và tôi còn gặp chị. Con đường phố tôi sạch bong cho chân ai mát rượi đi về. Còn tôi, chìm dần vào giấc mơ cô Tấm và ông Bụt. Sáng sớm hôm sau tỉnh dậy trong tiếng chuông tàu điện leng keng ngoài hồ Hoàn Kiếm. Cái tiếng chuông leng keng trong suốt tuổi thơ tôi. Nó không háo hức như tiếng ve gọi hè, không giục giã như tiếng còi ôtô, không lao xao như tiếng sóng hồ thu ... Nó mộc mạc, giản dị đến nao lòng. Lũ học trò chúng tôi thường hay chờ tầu ở cái tháp nhỏ bên hồ Hoàn Kiếm để đi học, đi vớt thuỷ trần, đi lên Hồ Tây câu cá. Trên đường vào Hà Đông, tàu còn chui qua một cái nhà cầu. đây, người soát vé đi kiểm tra một loạt. Cái vé tàu điện cũng nhỏ bé xinh xinh. Lần đầu tiên tôi vào đại học, với một gia tài nhỏ bé trong cái ba lô cũng lên tàu điện đi Hà Đông để vào La Khê, nơi Đại học tổng hợp sơ tán lúc bấy giờ. Chuyến tàu sớm, từ Bờ Hồ đi chợ Mơ. Tiếng bánh sắt rít trên đường ray xoàch xoạch đưa mẹ tôi đi chợ, và đưa tôi đến trường. Những con tàu đi ra các cửa ô Đồng Xuân, Quán Thánh, Bưởi, Cầu Giấy, Vọng... cần mẫn miết vào thời gian những âm thanh chói gắt mà gần gũi với người Hà Nội. Những con tàu không bao giờ có cánh cửa hai bên sườn. Sàn gỗ, thành sắt. Ba bốn toa nối với nhau. Mỗi toa treo lơ lửng một bóng đèn dây tóc đỏ hoe. Cái cần điện vắt vẻo trên đầu toa như cái râu một chú ngựa già đung đưa một sợi dây chão để anh lái phu điều chỉnh cần vẹt. Toa cuối thường dùng cho mấy bà đi chợ: thúng mủng, rau dưa. tôm cua... Cánh học trò chúng tôi thường được miễn vé hoặc hay xin đi nhờ. Qua cổng trường như trường Chu Vǎn An, Trưng Vương là nhảy xuống. Lên xuống khi tàu đang chạy không phải là dễ và nhiều anh trong lũ chúng tôi đã phát triển thành nghệ thuật nhảy tàu.

Ôi những âm thanh rạo rực lòng người ... Song, với tôi, tiếng ông lão "phá sa", tiếng chổi tre chị lao công quét rác, tiếng tàu điện leng keng mỗi sớm mai về, đã gieo vào lòng tôi những dấu ấn không phai mờ. Đó là những âm thanh Hà Nội không thể nào quên

Hoàng Liễn


Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

HÀ NỘI - XƯA VÀ NAY

Nghề làm đậu ở Võng La

Đậu phụ là một món ǎn khá quen thuộc trong mỗi bữa cơm của các gia đình Việt Nam. Có nhiều nơi làm đậu, nhưng đậu phụ làng Võng La (Đông Anh) là một trong những nơi nổi tiếng.

Làng Võng La còn có tên gọi là làng Chài (ngày xưa dân làng này sống bằng nghề sông nước) đến đây thấy thế đất đẹp, họ đã lên bờ định cư, tạo dựng xóm làng cách đây khoảng 200 nǎm và nghề làm đậu cũng ra đời từ đó.

Dụng cụ để làm đậu đơn giản, gồm: cối xay, túi lọc, nồi om, khuôn ép... nhưng để có bìa đậu ngon đến người tiêu dùng người làm cũng phải qua nhiều khâu và phải có kỹ xảo. Cụ Vũ Vǎn Diệm, người cao niên trong làng đã có kinh nghiệm làm đậu vài chục nǎm, cho biết: đầu tiên là chọn đậu tương. Muốn có đậu ngon hạt đậu tương phải đều, có vỏ mỏng vàng, nhẵn bóng. Cho đậu tương ngâm nước đến độ vừa phải sau đó đem xay được thứ nước trắng như sữa. Đổ nước đó vào túi lọc lấy bã ra. Nước tinh còn lại đặt lên bếp đun sôi (thành sữa đậu nành). Sau đó múc ra nồi om, chế thêm nước chua, khuấy đều (bí quyết để đậu có vỏ dai mà ruột vẫn mềm là ở khâu pha nước chua). Nước chua chế từ giấm và chanh, pha chua quá đậu sẽ cứng, không chua đậu khó ép... Khi đã làm như vậy được 3-4 lần, sữa đậu sánh lại, mới đổ vào khuôn để ép bằng những vật nặng chừng 30-40 kg. Khi ép cũng phải có kỹ thuật, ép nặng, lâu, đậu bẹp không đẹp, ép nhẹ đậu rất khó cắt... Để ép trong một thời gian nhất định, thấy đậu đóng bánh, sẽ dùng dao cắt thành từng miếng nhỏ. Làm khéo một khuôn cắt được 180 bìa, còn trung bình chỉ được 140-150 bìa. Đã làm nghề thì phải vất vả (muốn có đậu bán từ 8-9h sáng, người làm phải dậy từ 2-3h đêm)

Theo tính toán của dân làng, nghề này cũng chỉ "lấy công làm lãi" 1kg đậu tương tốt giá từ 5000 - 6000 đ, làm ra 2,5 - 3 kg đậu phụ và 2,5 kg bã đậu. Trừ chi phí điện, than, củi, vận chuyển... bán 4 bìa với giá 1000 đ một bìa thì chỉ lãi từ 1500 đ-2000 đ, vị chi 1 mẻ 10kg lãi 15.000-20.000 đ, vẫn thấp so với công lao động bỏ ra. Được cái có bã để chǎn nuôi, nên nhà nào cũng nuôi khá nhiều lợn và hằng nǎm cung cấp cho thị trường một lượng thịt không nhỏ.

Từ xưa đến nay, làng nghề Võng La cũng trải qua không ít thǎng trầm. Trong kháng chiến người Võng La phiêu dạt đi khắp nơi. Song ở đâu họ cũng sống bằng nghề làm đậu. Một số người ra Mai Động, Mơ để đến bây giờ, đậu Mơ-Mai Động vẫn là đậu phụ có tiếng trên đất thủ đô. Thời bao cấp, các hộ vào hợp tác xã, làng nghề không phát triển được. Sản phẩm do chính họ làm ra, nhưng không được tự mình tiêu thụ, mà để cung cấp cho các cửa hàng thực phẩm quốc doanh, rồi hàng tháng nhận về 4 lạng đậu tiêu chuẩn một người. Do vậy nhiều người chán nản gác đồ nghề. Độ mươi nǎm nay, nghề làm đậu mới được hồi sinh trở lại. Hiện tại, có tới hơn 80% gia đình sản xuất đậu để bán. Phần lớn, một hộ chế biến 15 - 20 kg đậu tương mỗi ngày. Những gia đình làm ǎn lớn làm tới hơn 30kg đậu tương/ngày. Đậu Võng La được khách hàng ưa chuộng về tận làng mua buôn, hoặc các gia đình đem ra chợ bán. Nhờ khéo léo và chǎm chỉ làm ǎn, làng Võng La ngày càng đổi mới. Những ngôi nhà hai ba tầng, mái bằng đang dần thay thế những nhà tranh vách đất. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao. Người Võng La đã làm giàu bằng chính đôi bàn tay của mình.

Bạch Dương


Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

HÀ NỘI - XƯA VÀ NAY

Hà Nội - những làng nghề

langnghe_gom.gif (20494 bytes)

Photo: Trần Cừ

Câu thành ngữ quen thuộc "Hà Nội 36 phố phường" đã thể hiện sự phong phú của các nghề truyền thống được tập hợp lại từng phường hội trong các phố ở Hà Nội. Ngày nay qua bao nǎm tháng thǎng trầm, các khu phố Hà Nội không còn giữ nguyên tính chất phường hội của nó, nhưng tên các phố-nhất là những khu phố cổ vẫn còn tồn tại hoặc gợi nhớ hình ảnh về một Hà Nội tài khéo ngày trước: Hàng Mắm, Hàng Muối, Hàng Đào, Hàng Bạc .... cả ở ngoại thành, có những tên khi đọc lên, người Hà Nội, và cả nhưng ai hiểu biết về Hà Nội cũng thấy nó gắn bó với những sản vật đã trở thành nổi tiếng: đào Nhật Tân, giấy Yên Thái, đồ đồng Ngũ Xã...

Làng đúc đồng Ngũ Xã

Ngũ Xã vốn là một làng nằm bên bời hồ Trúc Bạch, phía tây Hà Nội. Tên Ngũ Xã có nghĩa là có 5 làng. Khoảng thời nhà Lê, dân 5 làng Đông Mai, Châu Mỹ, Long Tượng, Diên Tiên và Dao Niên thuộc huyện Vǎm Lâm (tỉnh Hải Hưng) và Thuận Thành (tỉnh Hà Bắc) có nghề đúc thủ công, được triều đình trưng tập về kinh thành để lập xưởng đúc tiền và đồ thờ. Để ghi nhớ 5 làng quê gốc của mình, họ đặt nơi đây là Ngũ Xã.

Trình độ đúc đồng của thợ Ngũ Xã đã đạt được đỉnh cao. Ngoài sự thông minh sáng tạo, cái nhìn chuẩn xác, bàn tay khéo léo, người thợ thủ công còn có bí quyết nghề nghiệp và kinh nghiệm lâu đời. Sản phẩm đồ đồng Ngũ Xã nổi tiếng khắp nơi, trong đó nổi bật là pho tượng Phật Di Đà ở chùa Thần Quang nằm ngay tại làng Ngũ Xã. Pho tượng này kể cả toà sen làm đế cao 5,5 m và nặmg 12,3 tấn. Riêng toà sen có 96 cánh bằng đồng, cao 1m45, còn tượng cao 3.95m, khoảng cách giữa các đầu gối là 3m60. Tượng Phật Di Đà này được đúc hoàn toàn bằng kỹ thuật thủ công, tất cả những đường gấp khúc, uốn lượn trên pho tượng đều rất tinh xảo, liền nhau thành một khối không có sai sót về những kỹ thuật đúc. Đây là một tác phẩm nghệ thuật bằng đồng độc đáo và tinh tế.

Ngoài pho tượng này, thợ đúc đồng Ngũ Xã còn tạo ra nhiều tác phẩm khác cũng rất nổi tiếng như tượng Trấn Vũ bằng đồng đen ở chùa Quán Thánh (Hà Nội), chuông chùa một cột (Hà Nội). Ngoài ra còn có những đồ thờ bằng đồng như lư hương, chân đèn... cũng được cả nước đánh giá cao.

Làng giấy Yên Thái

langnghe_tranhhtrong.jpg (17486 bytes)

Photo: Lê Vượng

Nằm ở phía Tây Hà Nội, làng Yên Thái còn có tên là làng Bưởi. Trong sách"Dư địa chí" của Nguyễn Trãi viết vào nǎm 1435 đã nói đến nghề làm giấy của làng này. Ngay từ hồi ấy, người thợ thủ công ở đây đã làm ra những loại giấy đặc biệt cho triều đình phong kiến như giấy thị (để viết chỉ thị), giấy lệnh (để ghi mệnh lệnh). Những sản phẩm chủ yếu của Yên Thái là giấy bản để in sách hoặc để viết chữ Nho (bằng bút lông, mực tầu) và giấy dó (để in tranh dân gian).

Giấy dó có đặc tính xốp nhẹ, bền dai, không nhoè khi viết vẽ, Nó ít bị mối mọt, hoặc dòn gẫy ẩm nát, Giấy dó Yên Thái và nói chung là giấy dó Việt Nam-đã được xuất khẩu sang nhiều nước. Các hoạ sĩ Pháp đã sử dụng giấy dó Yên Thái (khổ lớn) để vẽ tranh bằng mực tầu theo phương pháp tranh cổ điển phương Đông. Một vài bảo tàng châu Âu cũng đã dùng giấy dó để lót bồi phía sau tranh vẽ. Với đặc tính chống ẩm rất cao, giấy dó sẽ làm cho tác phẩm nghệ thuật không bị ẩm mốc.

Nghề làm giấy ở Yên Thái hiện nay đang được phục hồi.

Những làng hoa Hà Nội

Trước đây, bên cạnh những phố phường đông đúc, Hà Nội có những làng trồng hoa nổi tiếng: Ngọc Hà, Nghi tàm, Nhật Tân, Quảng Bá... Hầu hết những làng này đều nằm ở ven Hồ Tây, một thắng cảnh nổi tiếng của đất Hà Nội. Cứ mỗi nǎm vào dịp Tết, dưới làn mưa xuân lất phất, các ngả đường Hà Nội lại nườm nượp những gánh hàng hoa với trǎm ngàn màu sắc.

Mấy nǎm nay, cùng với sự phát triển của cơ chế thị trường, những làng hoa ấy cũng nằm trong làng sóng đô thị hoá. Biệt thự, nhà nghỉ mọc lên san sát quanh Hồ Tây. Đất trồng hoa vẫn còn nhưng đã thu hẹp lại hoặc đã chuyển tới những nơi xa hơn. Thôn Phú Thượng, thuộc huyện Từ Liêm ở ngoại thành Hà Nội, hiện đang nổi lên như một nơi chủ yếu cung cấp hoa và cây cảnh cho Hà Nội. Nghề trồng hoa ở các làng hoa Hà Nội cũng là một nghề truyền thống, được truyền từ nhiều đời. Cùng với nhiều giống hoa mới, và kỹ thuật lai tạo, trồng tỉa các làng hoa Hà Nội hàng ngày vẫn làm đẹp cho thủ đô bằng hàng chục, hàng trǎm laọi hoa và cây cảnh.

Phố Hàng Bạc và nghề kim hoàn

Hàng Bạc là một phố nǎm ở trung tâm thành phố, thuộc khu phố cổ Hà Nội. Trước đây phố,

langnghe_cogai.gif (21880 bytes)

Photo: Thanh Hà

phố Hàng Bạc có ba nghề khác nhau: Nghề đúc bạc nén, nghề kim hoàn, và nghề đổi tiền. Có thể coi Hàng Bạc là những nơi tập trung những người thợ tinh xảo kỹ thuật chế tác đồ vàng bạc của đất kinh kỳ. Họ xuất thân từ ba làng nghề làm đồ vàng bạc nổi tiếng ở Bắc Việt Nam: làng Châu Khê, (tỉnh Hưng Yên), làng Định Công (huyện Thanh Trì - Hà Nội) và làng Đồng Sâm (tỉnh Thái Bình).

Vào thế kỷ XV, quan thượng thư bộ Lại là Lưu Xuân Tín - vốn người làng Châu Khê nói trên được triều đình nhà Lê giao cho việc lập xưởng đúc bạc nén tại kinh thành Thǎng Long (tức Hà Nội ngày nay). Bởi lúc bấy giờ bạc nén được dùng làm đơn vị tiền tệ để trao đổi. Ông quan này đã đưa thợ ở Châu Khê tới kinh thành lập nên xưởng đúc bạc. Dần dần cũng với nghề đúc bạc, thợ Châu Khê làm cả nghề trang trí vàng bạc. Đến đầu thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn, xưởng đúc bạc nén chuyển vào Huế (miền trung Việt Nam). Phần lớn thợ Châu Khê vẫn ở lại Thǎng Long làm nghề kim hoàn, họ lập thành phường ở tại phố Hàng Bạc hiện nay. Lúc này ở phố Hàng Bạc còn có cả thợ vàng bạc ở Định Công và Đồng Sâm tới lập nghiệp. Người ta sản xuất, buôn bán, kể cả đổi bạc nén lấy bạc vụn. Vì vậy, ở thời Pháp thuộc, phố này có tên tiếng Pháp là Rue changeurs ( phố Đổi Bạc).

Với đồ nghề thủ công, người thợ kim hoàn ở phố Hàng Bạc đã làm ra nhiều sản phẩm vàng bạc tinh xảo, nhất là đồ trang sức. Trong thuật ngữ chuyên môn, người ta phân biệt các sản phẩm này thành hai loại: đồ trơn (không trạm khắc) như nhẫn, khuyên tai cho phụ nữ, vòng xuyến cho phụ nữ hoặc trẻ em và đồ chạm (có chạm,khắc).

Người thợ kim hoàn ở Hàng Bạc thường chạm khắc trên đồ vàng bạc theo các mẫu trang trí nhất định. Tứ linh (Long,ly- còn gọi là lân, quy, phượng) là loại mẫu phổ biến nhất. Riêng hình tượng con long (con rồng) đã được bàn tay khéo léo của nghệ nhân thể hiện với nhiều chủ đề khác nhau: Long hàm thọ (Long ngậm chữ thọ), Lưỡng Long tranh châu (hai con rồng tranh viên ngọc), Lưỡng Long chầu nguyệt (hai con rồng tranh nhau mặt trǎng)... các mẫu trang trí khác như Bát vật (tám con vật), Bát bảo (tám vật quý). Bát quả (tám loại trái cây) v.v... cũng được chạm khắc tinh xảo trên đĩa, mâm bằng vàng, bạc.

Trên các đồ vàng, bạc, ta còn thấy người thợ kim hoàn chạm trổ hình ảnh con người, hoặc hình ảnh các loại trái cây mà theo quan niệm phương Đông thì đó là tượng trưng cho những phẩm chất cao quý của người quân tử: trúc, mai, lan, cúc...

Nói chung ở bất kỳ đồ vàng bạc chạm khắc hoặc đồ nữ trang nào người ta cũng đều dễ nhận thấy hai đặc điểm nổi bật: tạo dáng nghệ thuật và tạo vǎn (nét chìm, nổi) tinh xảo, sinh động.

Ngày nay, nghề buôn bán trao đổi vàng bạc không chỉ còn tập trung ở phố Hàng Bạc. nhiều phố khác, cũng đã rải rác có các cửa hiệu buôn bán vàng. Nhưng phố hàng Bạc vẫn là nơi tập trung những người thợ kim hoàn tinh xảo-dù nay đã ít đi-với truyền thống chế tác đồ vàng bạc lâu đời.

* *
*

Người Hà Nội vốn thanh lịch và tài hoa, đã tạo ra sản phẩm vừa có ích lại vừa đẹp cho đời. Ngoài những nghề kể trên, Hà Nội còn bao nghề truyền thống khác như: Kim hoàn, Hàng mã, thêu ren, Chạm gỗ... đã và đang được hồi sinh trên khu phố cũ. Những làng nghề, phường nghề với bàn tay khéo léo của những người thợ thủ công Thủ đô là điều không thể không nhắc đến mỗi khi nói về Hà Nội.

(Theo "Hà Nội trung tâm du lịch của Việt Nam")

Làng gốm ven bờ sông Hồng

Làng Bát Tràng nằm về phía đông nam thành phố, Cuối thế kỷ 14, làng Bồ Bát (Ninh Bình) và làng Ninh Tràng (Thanh Hoá) cùng di dân nghề gốm về đây và hợp tên thành Bát Tràng. Nǎm 1958, để lại một phần diện tích cho kên đào Bắc Hưng Hải mở cửa ra sông Hồng, làng rời đi khoảng 1/3 dân số sang ở đất làng Giang Cao láng giềng. Xã Bát Tràng hợp thành từ đó.


Truyền thống vǎn hoá và buôn bán

Làng có nhiều công trình vǎn hoá: đình, chùa, miếu nổi tiếng. Nhất là ngôi đình bề thế xây theo kiến trúc cổ, tu tạo lại đã hơn 300 nǎm, còn lưu được danh sắc dụ phong thành hoàng. Nhà vǎn chỉ lưu được danh sách 364 vị đỗ đạt khoa bảng từ tam trường trở lên. Qua sử sách và gia phả họ hàng, có 9 vị đỗ tiến sĩ, trong đó có một vị đỗ trạng nguyên.

Thời xưa làng không rộng, người làm nghề gốm còn ít, phần lớn dân làng buôn bán cau khô, nước mắm. Cau khô đưa từ Nam Định về bằng tàu thuỷ và chuyển tải qua làng bằng thuyền Nước mắm đưa từ nghệ An, Thanh Hoá bằng thuyền buồm theo đường biển ra Bắc và theo sông về thả neo buôn bán tại bến. Những người làm thuê khéo léo gánh trên vai những thùng nước mắm về từng nhà buôn.

Nhiều người cao tuổi còn nhớ câu phong dao: "Sống làm trai Bát Tràng...". Điều ấy trước hết nói lên sự tháo vát đảm đang của phụ nữ Bát Tràng có truyền thống nuông con chiều chồng. Quanh nǎm, khi trời còn mờ sáng, các bà, các chị với bị cói khoác vai, đã vội vã lên đường đi chợ xa. Hàng hoá thuê gánh, các bà vừa nhai trầu vừa hút thuốc cho quên đường dài và vui vẻ chuyện trò: "Ông thông, ông phán từ đây mà ra cả" vừa nói vừa vỗ tay vào bị với vẻ tự hào. Những gì các bà kiếm được hàng ngày đủ nuôi con cái ǎn học. Bằng con đường học vấn, nhiều người đã công thành danh toại và phục vụ cho nhiều ngành. Một số hoạt động nổi tiếng ở trong và ngoài nước. Trong khi ấy, con gái thường không được đi học vì nền nếp suy nghĩ nệ cổ "Chữ nghĩa sớm dẫn con cái mơ mộng và yêu đương".

Nǎm 1945, sau khi Pháp bị Nhật lật đổ (9-3), ở Bát Tràng, đông đảo học sinh từ các tỉnh, thành phố về quê nhà, cùng thanh niên tổ chức lực lượng vũ trang trong mặt trận Việt minh. Được nhân dân hậu thuẫn, thanh niên đã lật đổ chính quyền bù nhìn, lập chính quyền lâm thời, tham gia các hoạt động cách mạng trong huyện và thành phố chào mừng thắng lợi lịch sử Cách mạng tháng Tám. Trong quá trình giữ nước và làm nghĩa vụ quốc tế, nhiều thanh niên đã tình nguyện gia nhập quân đội nhân dân. 18 thương binh và 88 liệt sĩ của xã đã hy sinh xương máu ở chiến trường.

Nghề gốm sứ

langnghe_battrang.jpg (17067 bytes)

Photo: Xuân Tiến

Từ nǎm 1945 trở về trước, chỉ một số ít hộ gia đình làm gốm sứ và gạch. Trong thời chiến (1946-1954), một phần thợ chuyển ra vùng tự do tiếp tục sản xuất. Nghề gốm sứ được khôi phục nhanh khi hoà bình lập lại và có những bước phát triển ban đầu khi thành phố lập xí nghiệp nhà nước ở xã từ cuối nǎm 1959. Ban quản lý xí nghiệp tập trung động viên các nghệ nhân giỏi cải tiến kỹ thuật, sáng tác mẫu mã và phục hồi loại men truyền thống bị mai một lâu ngày. Xí nghiệp còn cung ứng nguyên liệu, giao nhiệm vụ cho sản xuất cho các hợp tác xã, hộ gia đình và quảng cáo bán hàng ở trong và ngoài nước.

Trong sự suy sụp chung của phong trào hợp tác hoá thời đổi mới (1991-1994), ngành thủ công gốm sứ Bát Tràng đã hướng nhanh sang cơ cấu kinh tế mới, đứng vững trong thị trường cạnh tranh gay gắt. Nǎm 1994, 62% của tổng số 2.803 hộ gia đình (khoảng 1.700 hộ) sản xuất đạt doanh thu ổn định, bình quân 30.000.000 đồng hộ/nǎm. Triển lãm hàng mỹ nghệ các nước ASEAN ở Thái Lan, hàng gốm sứ Bát Tràng với màu men phong phú, được nhiều người ưa thích.

Ngày nay, phụ nữ Bát Tràng không phải còn đi chợ xa xôi như trước. Rất nhiều chị đã cùng nam giới sản xuất và buôn bán hàng sành sứ. Nhiều người có cửa hàng bán buôn và làm dịch vụ phục vụ đông đảo người lao động. Con gái đã đi học. Nhiều nữ sinh đã học hết bậc phổ thông cơ sở và trung học. Một số đã bước vào ngưỡng cửa đại học.


Triển vọng của xã Bát Tràng

Bát Tràng có tiềm nǎng là một địa chỉ du lịch, hấp dẫn trong và ngoài nước với nghề cổ truyền tạo ra nhiều hàng gốm sứ đẹp, với khu làng cổ toàn nhà gạch kiên cố chống đỡ với lũ lụt hàng thế kỷ, với mạng đường nhỏ hẹp ngoằn nghèo gấp khúc thẳng góc mỗi chỗ ngoặt; cả với di tích cũ để lại vết tích mái nhà và đồ cổ ở sâu 5 - 10m dưới mặt đất. khu làng cổ, tờ báo Độc Lập đã được bí mật in từ cuối nǎm 1944. Khi Trung ương Đảng chuẩn bị cuộc Cách mạng tháng Tám nǎm 1945, ở đây cũng là nơi đã in bài quốc ca Tiến Quân ca của cố nhạc sĩ nổi tiếng Vǎn Cao được khắc trên bàn đá. Khu du lịch cần sự đầu tư thiết yếu cho cơ sở hạ tầng đầy đủ cả về vật chất và tinh thần, để đón khách du lịch đến bằng đường sông, hoặc đường đê.

Triển vọng ấy rất sáng sủa. Nhân dân Bát Tràng chắc sẽ không bỏ lỡ cơ hội để cải thiện đời sống của mình, góp phần đưa ngành gốm sứ Việt Nam tiến lên

Phạm Huy Thi


Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

HÀ NỘI - XƯA VÀ NAY

Chợ Đồng Xuân

dongxuan_cu.gif (15337 bytes)

Chợ Đồng Xuân (1926)

Thật may mắn Hà Nội có một Hồ Gươm ngay giữa trung tâm, đã trở thành biểu trưng, thành niềm tự hào của mỗi người Hà Nội. Nhưng nói đến Hà Nội, không thể không nói đến chợ Đồng Xuân. Ai có dịp về Hà Nội, nếu chưa đi chợ Đồng Xuân thì coi như mới biết một phần nhỏ, một góc bé, hoặc chưa đến Hà Nội.

Cách đây trên nǎm trǎm nǎm khi con sông Tô Lịch chưa bị lấp hết, người dân kẻ chợ vẫn thường tụ họp ở hai cái chợ nhỏ ngay bên bờ sông vừa trong vừa mát ấy. Một tại chỗ đền Bạch Mã, phường Hà Khẩu (Hàng Buồm nay), một nữa nơi bến và chùa Cầu Đông (số 38B Hàng Đường bây giờ). Hai cái chợ nhỏ họp ngay ngoài trời, trên nền đất sông, bến thuyền tấp nập, làng xóm đông vui, đổi trác sản vật quanh vùng. Chợ còn họp lan sang đền Huyền Thiên (Hàng Khoai) cạnh đó.

Nǎm 1899, người Pháp dẹp mấy chợ này, dồn dân vào cái chợ to hơn, là khu đất còn trống trải của phường Đồng Xuân, mái tranh, vách nứa, rào chắn cũng chỉ là tre cắm xung quanh, ai vào cũng phải nộp thuế chợ, nên nhiều người cứ họp chợ ngay bên ngoài.

Nǎm 1890 mới bắt đầu xây dựng 1 chiếu nhà cầu, dài 52 m, tường sắt, mái tôn kẽm, cao làm chợ Đồng Xuân chính nó là một chợ to nhất Hà Nội từ ngày ấy. Tường xây dần dần được dựng và củng cố. Có 3 cổng vào chợ, và 2 ngách, một thông sang Hàng Khoai, một ngõ nhỏ hơn thông sang Hàng Chiếu. Cho đến khoảng dǎm chục nǎm gần đây, chỗ chợ Bắc Qua còn có xưởng dệt "Lơ Pa-Giơ" (Le Page), sau xưởng dệt đóng cửa, thành sân đá bóng, và dần dần thành chợ, nhập vào với Đồng Xuân như ngày nay, rộng trên một vạn mét vuông.

dongxuan_moi.jpg (19056 bytes)

Chợ Tết Đồng Xuân(1996)
Photo: Trần Chính

Chợ Đồng Xuân đúng là thượng vàng hạ cám hiểu cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Tất cả sản vật quý hiếm, ngon lành của khắp bốn phương, các vùng đất nước, đều có mặt ở chợ, từ vải vóc tơ lụa, gấm nhung, đến con cá, lá rau, thuỷ sản tươi sống, con cua bể, thúng rươi, cho đến nấm hương, mǎng rừng, quả núi... và cũng giống như tất cả chợ Việt Nam: Hàng quà. Một cầu chợ riêng cho hàng quà. Bún thang nổi tiếng của bà m, những xôi vò chè đường, những bánh cốm, xu xuê, bánh trôi bánh chay, cháo lòng, tiết canh, bún ốc, bún riêu, bánh dày, bánh giò... cho đến thuốc lào Vĩnh Bảo, bát nước chè xanh, cũng nổi tiếng trong lành thơm thảo.

Khoảng giữa nǎm 50, trước cửa 5 cầu chợ còn che chắn đủ thứ màn bằng vải xọc, cót, bao tải để đỡ nắng cho các cô mặt hoa da phấn ngồi trên hàng loạt quầy gỗ cao, bán vàng mỹ ký. Tối đến gầm quầy là nơi trú ngụ của hành khất, trẻ vô gia cư, dân bốc vác... Sau nǎm 1954, các quầy nhếch nhác này mới được dỡ bỏ.

Tết đến, chợ Đồng Xuân tấp nập khác thường. Các bà các chị cần mua gì, Đồng Xuân có hết. Nhưng thường cũng chỉ đến 5 giờ chiều là đóng cửa. Cân miến tàu, ký lạp xường, chiếc giò lụa, hộp mứt sen, ít mǎng lưỡi lợn, nấm hương, mộc nhĩ, con cà cuống... cho chí vải vóc, tơ lụa, gấm nhung lộng lẫy. Các cụ ông cầm giò thuỷ tiên về tỉa, gọt, quả phật thủ Lạng Sơn, chậu cây cảnh, con chim khiếu, và trẻ em thích con cá vàng, chục pháo dây... con gái nông dân mua bộ khuy bấm, ông phán già tìm mấy chiếc cầu, lão tiều phu bằng gốm để gắn lên hòn Nam Bộ... Chợ Đồng Xuân đã làm thoả mãn tất cả.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chợ Đồng Xuân nằm trong Liên khu Một. Ngày 11, 12, 13-2-1947 Pháp ném bom dữ dội toàn khu vực để hôm sau huy động hơn 400 lính lê dương từ nhiều phía tấn công chợ, xe tǎng, thiết giáp từ Bắc Qua, từ Hàng Giấy ầm ầm lao tới. Lực lượng Vệ quốc quân và tự vệ chỉ có 2 tiểu đội, gồm 19 người dưới sự chỉ huy của đồng chí Thanh Trường đã chiến đấu suốt từ sáng đến chiều trong sự chênh lệch về vũ khí, rất xa. Chỉ với gậy gộc, mã tấu và sau là dao bầu, phản thịt, chai lọ... nhưng quân Pháp để lại chiến trường hàng trǎm xác chết da trắng da đen mà không chiếm được chợ.

Cuối cùng các anh hy sinh gần hết mới chịu rút lui, để lại một trang vàng chói lọi về tinh thần yêu nước và chiến đấu giữ gìn Hà Nội, một bên thô sơ bé nhỏ, một bên to lớn đầy vũ khí...

Sau hoà bình chợ giữ nguyên dáng cũ với 5 cầu chợ. Mươi nǎm trước, chợ được xây lên ba tầng, giữ lại một trụ còn và ba bức tường trước mặt để làm kỷ niệm.

Hà Nội đã có hàng trǎm chợ to nhỏ như: Hàng Da, Cửa Nam, Chợ Hôm, Chợ Mơ, chợ Bưởi, chợ 19-12, Ngã Tư Sở v.v... và hàng loạt chợ xanh, chợ cóc. Nhưng chợ Đồng Xuân vẫn là đàn chị về mọi mặt. Có nhiều người tuổi đã cao nhưng mỗi nǎm vẫn đi chợ Đồng Xuân một vài lần, chẳng cần mua sắm, chỉ ghé vào ǎn một món quà, cho thức lên kỷ niệm thời còn trẻ mới yêu nhau, đi dạo chơi ngắm chợ...

Chợ Đồng Xuân vẫn luôn là niềm thao thức trong làng Hà Nội. Vào chợ, mua sắm hay chỉ dạo chơi, vẫn khác hẳn đi quanh Bờ Hồ, trên đường Thanh Niên hay đến công viên Thủ Lệ. Nó là kinh tế, nhưng cũng là vǎn hoá. Mong sao chợ Đồng Xuân sẽ buôn may bán đắt, ngày càng phát triển để nó là cái "dạ dày" của Hà Nội, là niềm ước mong của nhiều người chưa đến Hà Nội và cũng là đại diện cho tấp nập, tưng bừng của một Hà Nội không ngừng lớn lên.

Bǎng Sơn


Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

HÀ NỘI - XƯA VÀ NAY

Chùa Một Cột

motcot_cu.gif (15318 bytes)

Chùa Một Cột (1922)

Tên thường gọi là chùa Một Cột, nằm trong quần thể chùa Diên Hựu (kéo dài tuổi thọ). Chùa nằm trên đất thôn Thanh Bảo, huyện Quảng Đức, phía Tây hoàng thành Thǎng Long thời Lý, nay thuộc phố chùa Một Cột, quận Ba Đình - Hà Nội, ở bên phải Lǎng Chủ Tịch Hồ Chí Minh.

Theo Đại Việt ký sự toàn thư, chùa được xây dựng vào nǎm Kỷ Sửu, niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo 1 (1409) đời Lý Thái Tông. Vua Lý Thái Tông (1028-1054) chiêm bao thấy Phật Quan Âm trên toà sen đưa tay dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy, vua kể lại cho các quan nghe, có người cho là điềm không lành. Sư Thiên Tuế khuyên nhà vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa hồ, làm toà sen của Phật Quan Âm như đã thấy trong mộng. Chùa xây xong, đài sen nghìn cánh đỡ toà Phật sắc hồng, trong đặt tượng Phật vàng lấp lánh. Các nhà sư đến làm lễ, đi vòng quanh chùa niệm Phật cầu phúc cho vua sống lâu, vì thế đặt tên là chùa Diên Hựu.

Theo vǎn bia dựng nǎm Cảnh Trị 3 do hoà thượng Lê Tất Đạt ghi, chùa được dựng từ thời thuộc Đường: "Nǎm đầu niên hiệu Hàm Thông thời Đường..., dựng một cột đá ở giữa hồ, trên cột xây một toà lầu ngọc trong đó đặt tượng Phật Quan Âm để thờ cúng. Khí đất chung đúc anh linh, cầu gì được nấy. Đến khi triều Lý xây dựng kinh đô ở đây, cũng noi theo dấu cũ, nên càng linh thiêng. Khi Lý Thánh Tông chưa có Hoàng tử, thường đến đó cầu nguyện. Một đêm nằm mộng thấy Phật Quan Âm mời lên lầu ngồi, ôm một đứa bé đặt vào lòng vua. Tháng đó Hoàng hậu có mang hoàng tử. Vua bèn sửa thêm ngôi chùa Diên Hựu ở bên phải chùa Một Cột để mở rộng việc thờ cúng..."

Đời Lý Nhân Tông, nǎm Anh Vũ Chiêu Thánh 5 (1080) vua cho đúc chuông lớn để treo ở chùa gọi là "Giác Thế chung" (chuông thức tỉnh người đời) và một toà phương đình bằng đá xanh cao 8 trượng, nhưng vì chuông quá nặng không sao treo lên được, phải để dưới đất nên đánh không kêu. Chỗ ruộng để chuông thấp, có nhiều rùa đến ở, được gọi là ruộng Quy Điền và quả chuông cũng được gọi là chuông Quy Điền. Khi quân Minh bị bao vây ở Đông Quan, hết quân khí, Vương Thông đã cho phá quả chuông này để đúc súng đạn.

Quy mô chùa Một Cột vào thế kỷ 12 to lớn lộng lẫy hơn như hiện nay rất nhiều. Vǎn bia Tháp sùng Thiện Diên Linh chùa Long Đọi (Nam Hà) dựng nǎm 1121, mười sáu nǎm sau khi chùa mới hoàn thành, cung cấp cho ta hình ảnh chân thực nhất về một ngôi chùa Một Cột thời Lý: "Lòng sùng kính đức Phật, dốc lòng mộ đạo nhân quả, hướng về vườn Tây Cấm nổi danh, xây ngôi chùa Diên Hựu. Theo dấu vết chùa cũ cùng với ý mới của nhà vua ( Lý Nhân Tông). Sáng "Đào hồ thơm Linh Chiểu, giữa hồ vọt lên một cột đá, đỉnh cột nở đoá sen nghìn cánh, trên sen đứng vững toà điện màu xanh, trên điện đặt pho tượng vàng nhân đức, vòng quanh hồ là hai dãy hành lang; lại đào ao Bích Trì mỗi bên đều mắc cầu vồng để đi qua. Phía sân cầu hai đằng trước hai bên tả hữu, xây bảo tháp Lưu Ly.

"Hằng tháng vào sớm ngày mồng một (ngày sóc), hàng nǎm vào dịp du xuân, nhà vua ngồi xe ngọc, đến chùa mở tiệc chay, làm lễ dâng hương hoa, cầu cho ngôi báu lâu dài, bày chậu thau làm lễ tắm tượng Phật. Trang sức pho tượng tinh tế, biểu đồ tướng mạo của nǎm loại chúng sinh..."

motcot_moi.jpg (16979 bytes)

Chùa Một Cột
Photo: Hoàng Đức Thự

Qua vǎn bia miêu tả, rõ ràng Liên Hoa Đài thời Lý to hơn chùa ngày nay nhiều. Chùa thời Trần cũng không phải là ngôi chùa thời Lý nữa. Như sách Toàn thư đã ghi lại, nǎm 1249 "mùa xuân, tháng giêng, sửa lại chùa Diên Hựu, xuống chiếu vẫn làm ở nền cũ". Chùa đã qua nhiều đợt tu sửa. Đợt sửa chữa lớn vào nǎm Thiên ng Chính Bình 18 (1249) gần như phải làm lại toàn bộ. Thời Lê, triều đình nhiều lần cho tu sửa, thu nhỏ kích thước đài sen và cột đá. Nǎm 1838, tổng đốc Hà Ninh Đặng Vǎn Hoà tổ chức quyên góp thập phương sửa chữa điện đường, hành lang tả hữu, gác chuông và cửa tam quan. Nǎm 1852, bố chính Tôn Thất Giao xin đúc chuông mới. Nǎm 1864, tổng đốc Tôn Thất Hàm hưng công trùng tu, làm sàn gỗ hình bát giác để đỡ toà sen, chạm trổ thêm công phu tráng lệ. Nǎm 1954, trước khi rút khỏi Hà Nội, quân Pháp đã đặt mìn phá đổ chùa. Sau ngày tiếp quản thủ đô, Bộ Vǎn Hoá đã cho tu sửa chùa Một Cột theo đúng kiểu mẫu cũ để lại từ thời Nguyễn.

Toà đài sen (Liên Hoa Đài), ta quen gọi là chùa Một Cột có hình vuông mỗi chiều 3m, mái cong dựng trên cột đá hình trụ cao 4m (chưa kể phần chìm dưới đất) có đường kính là 1,2m. Trụ đá gồm 2 khối, gắn rất khéo, thoạt nhìn như một khối đá liền. Sự độc đáo của kiến trúc chùa Một Cột là toàn bộ ngôi chùa được đặt trên một cột đá. đây có sự kết hợp táo bạo của trí tưởng tượng lãng mạn đầy thi vị qua hình tượng hoa sen và những giải pháp hoàn hảo về kết cấu kiến trúc gỗ bằng hệ thống móng giằng; đặc biệt là sử dụng các cột chống chéo lớn từ cột đến sàn, vừa tạo thế vững chắc, vừa mang lại hiệu quả thẩm mỹ như đường lượn của cánh sen, thiếp lập sự hài hoà giữa mái và sàn bởi một đối xứng ảo. Cùng với ao hình vuông phía dưới có thể là biểu tượng cho đất (trời tròn, đất vuông), ngôi chùa như vươn lên cái ý niệm cao cả: Lòng nhân ái soi tỏ thế gian. Khối kiến trúc gỗ đá được phù trợ bởi cảnh quan, có ao, có cây cối đã tạo nên sự gần gũi, tinh khiết mà vẫn thanh lịch. Cảm giác thanh cao của kiến trúc như chia xẻ, hoà đồng với trời nước, và màu xanh của cây lá khiến con người rũ sạch ưu phiền, đạt tới sự trong sáng của tâm hồn như nhà sư Huyền Trang (1254-1334) dưới thời Trần đã viết:

Vạn duyên bất nhiễu thành giã tục
Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan.

Tạm dịch:

Mối duyên chẳng bợn, ngǎn lòng tục,
Phiền nhiễu khuấy lâng, rộng nhãn quang.

Chùa Một cột đã được Bộ Vǎn hoá xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật ngày 28-4-1962.

(Theo "Chùa Hà Nội", tác giả: Nguyễn Thế Long và Phạm Mai Hùng)


Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!