Hiển thị các bài đăng có nhãn HUẾ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn HUẾ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 10, 2008

VĂN HÓA - HUẾ

Ca Huế Trên Sông Hương: Một thú chơi tao nhã In E-mail

ImageĐã có lúc tưởng chừng như Ca Huế chỉ còn được lưu lại trong dân gian bởi nhiều người duyên nợ với nó đã dần dà từ bỏ “kiếp cầm ca” của mình để đến với nghiệp khác...

Có thể, đó chỉ là lần trả giá cho một thời vàng son kéo dài hơn mấy trăm năm, để rồi qua cơn nguy kịch ấy mới định lại ngôi thứ trong dòng âm nhạc tân thời ? Và cũng có thể, sự èo uột trong thời gian đó là lẽ tự nhiên ở buổi giao thoa về một cơ chế mà không chỉ Ca Huế độc thân gánh chịu ?...

Nhưng rồi sóng gió cũng đã qua đi !

Sự đóng góp của Ca Huế trong những năm “mở cửa” cho ngành du lịch đã như một “sản phẩm đặc biệt”địa phương ?. Nó không chỉ gặt hái được nhiều kết quả vật chất mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở kinh đô xứa. Điều đó đã góp thêm vào niềm tin tự hào của Người Huế về quê hương mình – mảnh đất đã kết tinh một nền văn hoá độc đáo! mà nét nổi bật là văn hoá phi vật chất, trong đó có bộ môn nghệ thuật “Quan nhạc”: Chính là Ca Huế.

Ca Huế vừa tiếp thu phong cách văn chương tao nhã của Cung Đình, vừa tiếp thu những tinh hoa âm nhạc trong dân gian, tạo nên một thể loại âm nhạc đặc biệt. “Đó là sự kết hợp hài hòa của yếu tố chuyên nghiệp –“tri thức” trong cấu trúc và phong cách biểu hiện với nội dung âm nhạc dân gian”. Lời Ca Huế được phát triển trên mảnh đất thi ca đầy trữ tình. Vì vậy, khi đắm mình trong âm thanh của thể loại âm nhạc này, ta bắt gắp một nỗi buồn man mác, nhẹ nhàng...say đắm với dòng cháy tâm sự trong các điệu Nam, cùng với niềm vui và nét trang nghiêm trong các điệu Bắc. Do đó, Ca Huế đủ để ta cảm nhận “một thế giới quan” qua âm thanh với đầy đủ niềm vui và nỗi buồn nhè nhẹ mà trong sáng, lắng sâu trong sự thanh cao.

Đêm hoa đăng trên sông Hương

Người xưa kể rằng “Các bậc quyền quý thời phong kiến thường tổ chức nghe Ca Huế trên sông Hương vào những đêm trăng. Với chiếc thuyền trôi bồng bềnh, người hát – người nghe cùng tâm giao, tận hưởng hương vị ngọt ngào của thiên nhiên trong đêm vắng, thưởng thức âm thanh trầm, bổng của ngũ nguyệt và lời ca. Người nghe mải mê thêm ly rượu, tay tỳ lên chồng gối xếp đã phủ lớp vải lụa. Sau cuộc chơi, lớp vải lụa được ném xuống dòng sông như một sự “hào hiệp”của kẻ giàu có ?. Để rồi, lũ nhỏ xúm nhau bơi thuyền tìm vớt làm quà”.

Thú chơi ấy qua thời gian đã biến mất cùng với chế độ sản sinh ra nó. Nhưng Ca Huế thì vẫn còn đó với tất cả sự sang trọng của một loại hình âm nhạc Cung đình đã được bao nghệ nhân tài hoa chắt lọc, ươm trồng ?. Và ngày nay không chỉ tồn tại mà còn phát triển theo định hướng văn hóa đầy tính nhân văn.

Bởi vậy khi đến Huế, người ta không chỉ cốt xem sắc nước hương trời của núi Ngự, sông Hương, thăm những công trình kiến trúc cổ kính, vàng son của đền đài, lăng tẩm....Mà đến Huế, du khách còn có nhiều thứ thưởng thức khác! Trong đó nghe Ca Huế trên sông Hương là thú chơi tao nhã không thể bỏ qua.

Ca Huế trên sông Hương ngày nay đã trở thành một dịch vụ “đại trà” phục vụ khách thập phương. Có thể nói, đây là thời gian “nở rộ” mang tính phát triển “chiều rộng” nhưng phần nào vẫn giữ được sự tao nhã vốn có của nó ?. Chính vì vậy, đông đảo khách du lịch trong nước và quốc tế khi đến Huế đều tìm đến với “sản phẩm du lịch” nổi tiếng này.

Thuyền Rồng ngược dòng hương đưa du khách đến chùa Thiên Mụ hoặc trước bến Vân Lâu, thả thuyền trôi lững lờ theo dòng nước xuôi về Vỹ Dạ. Trong khoảng thời gian một giờ đồng hồ, với ban nhạc trên dưới 10 người (gồm nhạc công và ca sỹ) trang phục khăn đóng, áo dài kiểu Cung đình, lần lượt biểu diễn chương trình từ các làn điệu: Cổ bản, Phú lục, Tứ đại cảnh, Nam Bình, các điệu lý... và cuối cùng là “hò giã gạo” đầy vui vẻ nhộn nhịp của không khí đồng quê mang tính dân gian.

Phút chia tay, du khách cùng các nghệ sĩ vui vẻ thả những ngọn hoa đăng xuống sông Hương, cầu mong ngày gặp lại nhau trên bến sông này. Phải nói rằng, việc thả hoa đăng trên sông Hương đã tạo thêm sự lấp lánh về một mảnh đất thắm đượm lễ nghi đạo phật, lung linh thêm vẻ huyền ảo về dòng sông mang nhiều huyền thoại. Đó là nét rất riêng của Huế để khắc vào lòng du khách ấn tượng khó quên !.

Vẫn biết, Ca Huế trên sông Hương ngày nay đang còn đôi chút “thực dụng” đáng được luận bàn ?. Nhưng với sự tao nhã của nó đã tạo được vị trí xứng đáng trong món ăn tinh thần của khách du lịch. Đồng thời, góp phần xứng đáng vào công cuộc “Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc” của nước nhà.



Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2008

VĂN HÓA HUẾ

Mùa Xuân đi nghe hò Huế
Khánh Yên



Ngày bình thường, bất chợt được nghe những giọng hò xứ Huế đã thấy lòng nôn nao. Mùa xuân đến, những điệu hò xứ Huế càng làm cho ta chìm đắm trong cảm giác xao xuyến. Xứ Huế vốn là vùng dân ca nổi tiếng với những điệu hò mái nhì, mái đẩy dàn trải, khoan thai, đầy thương cảm. Lối hò bài thai, hò đối đáp nam nữ ngọt ngào như tâm hồn xứ Huế lại mang phong thái độc đáo của vùng đất Cố đô văn vật. Xứ Huế còn có lối hò giã gạo, giã vôi, gia điệp, hò bồng bông, hò đưa linh... những điệu hò luôn làm nao nức và nồng đậm tình người. Trong mênh mang của vùng đất cồn bãi, kênh rạch, đầm phá, ruộng đồng, những điệu hò câu hát như làm vơi đi những nỗi vất vả, nhọc nhằm trong những tháng ngày lao động trên đồng chua, nước mặn, làm nảy mối duyên tình và sâu nặng hơn hết là tình yêu quê hương đất nước.

Hò Huế rất phong phú và đa dạng. Thật thú vị khi du xuân trên sông nước mênh mang, chợt đâu đó văng vẳng một điệu hò mái nhì của các "ca sĩ dân gian":

Nước đầu cầu khúc sâu khúc cạn
Chèo qua Ngọc Trản đến vạn Kim Long
Sương sa gió thổi lạnh lùng
Sóng xao trăng lặn gây lòng nhớ thương


Câu hò cất lên như đưa hồn người nghe cùng lơ lửng trong một bầu trăng nước. Những ai đã có những đêm canh trường nằm trên bến Phu Vân Lâu để đợi tiếng chuông gọi canh của chùa Thiên Mụ, lại chợt nghe giọng hò của một thiếu nữ chèo thuyền qua trước mắt, hẳng lúc này không thể không xao lòng. Rồi trong cái nôn nao rạo rực của không khí vào xuân, bạn rời chốn mênh mang của vùng sông nước, nhẹ nhàng thả bộ vui xuân vào bất cứ mọi xóm làng nào bạn cũng sẽ thấy nhiều thú vui hay lắm, lạ lắm! ấy kìa! Trên một khoảng đất bằng, ẩn dưới một gốc đa xúm xít vòng trong, vòng ngoài một đám chừng chục người đang chơi bài Thai. Bài Thai là một lối chơi từ bộ bài tới, cũng mượn giọng hò làm phương tiện mua vui. Lối chơi có nguồn gốc từ một kiểu hò, đó là hò Thai. Nhà cái bày tấm bia có 30 con bài rồi đặt con bài Thai mình định hò vào đĩa lấy chén đạy lại rồi bắt đầu hò:

Thương nhớ dạng chồng ruột như tơ vày vò một trăm múi, chàng đi em nuôi thầy dưỡng mẹ, em cứ nguyện một lòng vô cúi ra lòn.

Thương khuyên cùng chàng đừng có ham chơi chốn gác tía lầu son. Nhớ cảnh quê nhà làm thuê cắt mướn chớ để vợ con tồi tàn.

Câu hò mang nghĩa ẩn buộc người chơi phải suy đoán để tìm ra con bài thai và đặt tiền vào các ô mình đoán. Ai đoán trúng sẽ được thưởng tiền gấp 8 lần, đoán sai thì số tiền đã đặt thuộc về nhà cái. Ðám chơi bài thai xôn xao. Nhà cái cất giọng hò lượt hai, giọng hò mượt mà pha phách điệu mái nhì lúc trầm, lúc bồng. Tiếng ai đó thúc giục: đánh đi, đánh đi! Một người quả quyết: Tôi đánh con xơ, vì khi người chồng ham mê lầu son gác tía thì hẳn vợ con ở nhà sẽ bị bỏ bê xơ xác đói khổ. Khi tiếng bạc mở ra, quả là con xơ. Mọi người xuýt xoa thán phục! Tương truyền, nhà thơ Xuân Diệu cũng đã từng du xuân và rất mê những điệu hò xứ Huế. Nhà thơ đã phát hiện ra những nét rất riêng, rất độc đáo, rất sáng tạo của những điệu hò ở vùng đất thơ mộng này:"Lời hò ở đây nặng về xinh hơn là về đẹp, có duyên, rất có duyên, văn rất sáng tạo:

Sóng sầm sịch lưng chừng ngoài biển Bắc
Giọt mưa tinh tăng ri rắc chốn hàng hiên
Em muốn làm lơ đi mà ngủ, ngủ cũng không yên
Sợ mưa già nước ngập, biết tựa con thuyền vào đâu...


Sóng văng vẳng dội về từ ngoài biển xa nên "lưng chừng", tuy lưng chừng mà vẫn nghe đợt nặng, đợt nhẹ cho nên sầm sịch; Mưa rí rắc là mưa rơi, mưa rắc lại còn nói nhỏ như rỉ bên tai, giọt mưa lại tinh tăng thì thật là hay! Tinh tăng là mưa giọt tranh rỏ trên mặt thùng thiếc. Văn ca dao xứ Huế còn để lươm thươm chứ không tướt bớt quá chặt chẽ như văn ca dao Bắc bộ, đáng lẻ nói muốn ngủ mà không tài nào ngủ được, lại nói khía cạnh "em muốn lơ đi mà ngủ" thì ra cái nỗi mưa này nó gợi cảm, "nó trêu bên lòng" (Xuân Diệu).

Ðó là ngôn ngữ của hò mái nhì. Ðặc biệt, ta sẽ lại bắt gặp trong hò khoan đối đáp nam nữ những tri thức ngôn ngữ được thể hiện thật phong phú. Nó sử dụng nhiều thể, nhiều làn điệu hò, tạo nên sự đa dạng, sinh động và hấp dẫn. Một cuộc hò đối đáp nam nữ thường chứa đựng ít nhất là một trong các nội dung: Hò chào hỏi, hò ướm lòng, hò thử tài, hò trêu ghẹo đâm bắt, hò ân tình, hò ly biệt.

Cho đến bây giờ, lòng tôi vẫn luôn luôn rộn lên khi bất chợt được nghe một câu hò xứ Huế. Mùa xuân đi nghe hò Huế luôn là thú chơi đặc sắc của con người và mảnh đất thần kinh. Một thú chơi đầy chất dân dã và cũng đầy tính trí tuệ.


Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

TẢN MẠN HUẾ

Lụt xưa nay ở Huế


Kể từ khi nàng Huyền Trân Công chúa "nước non nghìn dặm ra đi...đền nợ Ô, Ly..." năm 1306. Thuận Hóa chính thức về với Đại Việt. Viết về chuyện thời tiết của vùng đất này; sách "Ô châu cận lục"nói:"Thịnh hạ thì nhiều cơn bão lớn, trung thu ít cảnh trăng thanh. Nước lụt thì cứ để tràn không có đê chắn"; sách "Đại nam nhất thống chí" thì ghi:"Tháng 8,9 khí trời mát dần thường có mưa lũ, lại hay có gió mùa đông bắc vài ba ngày mới tắt. Tháng 10 trong những ngày mồng 3, 13, 23 thường bị lụt to, ngạn ngữ có câu:"Ông tha mà bà chẳng tha, làm cho cái lụt hai ba tháng mười". Lụt vừa rút lại có mưa gọi là "mưa rửa bùn"...

Kể từ đó (1306) đến nay, có nhiều trận lũ lớn xảy ra liên miên trên mảnh đất này. Sau đây chỉ nêu vài trận lụt đã được các tài liệu thống kê (đặc biệt là tài liệu của Dương Phước Thu) mà bản thân người viết cho là lớn. Mở đầu là trận lụt năm 1361, kinh thành Hóa Châu ngập chìm trong nước, quan quân phải di dân lên phía núi huyện Kim Trà chạy lụt. Năm 1403, thời nhà Hồ, một trận lũ rất lớn, nước dâng cao kèm theo sóng thần ngoài biển đẩy vào, phát ra một tiếng nổ dữ dội, phá vỡ dải cát chạy dài từ Quảng Trị vào đến cửa Tư Dung, mở ra cửa Thuận An ngày nay. Tháng 9.1671, mưa bão làm ngập nước mênh mông sâu hơn 3 thước, người và súc vật chết la liệt khắp nơi. Năm 1676 nước lụt ngập sâu 4 thước, dân chết đói nhiều. Tháng 8.1680, có gió bão, nước ngập lụt sâu hơn trượng, người và súc vật chết rất nhiều. Tháng 10.1698, sấm mưa dữ dội suốt một ngày đêm, nước lụt tràn ngập mặt đất sâu 4-5 thước, nhà cửa, người và súc vật bị trôi chết đầy sông. Tháng 10.1712, lụt sâu 5-6 thước, nhà cửa của dân trôi mất nhiều. Tháng 8.1811, kinh sư bị bão, nước lụt lên hơn 8 thước, nhiều nhà của quan, dân sụp đổ. Cửa Tư Dung bị lũ phá vỡ. Tháng 10.1825, trong kinh kỳ mưa to, nước lụt lên cao, nhiều nhà dân bị ngập. Vua sai quan kinh doãn đem cơm vắt cấp cho và chẩn phát lúa gạo cho dân nghèo. Năm 1828, kinh kỳ lụt to, ngập mặt đất sâu hơn 10 thước, dân chết đuối hơn 60 người. Vua Minh Mạng sai quan kinh doãn Đặng Đức Thiệm lấy cơm muối phát chẩn cho dân nghèo từ kinh thành đến các thôn xóm. Vua nói:"Mưa lụt to quá, nhân dân mắc nạn chìm đắm, rất thương. Các ngươi biết ý trẫm mà chu cấp không sót, dẫu đến hàng nghìn hàng vạn cũng không tiếc". Tháng 8.1842, tại kinh sư gió mưa dữ dội, nước lụt tràn đầy, trong thành ngoài thành hơn 700 hộ nhà dân bị đổ, nhân dân nhiềungười chết đuối. Vua Thiệu Trị sai quan kinh doãn đi phát chẩn gạo, vải trắng cho dân.


Tiết trùng dương tháng 9 năm 1844, ở kinh sư mưa to, gió dữ. Nước ngập từ 10-16 thước. Nhà cửa, thuyền bè, công sở, tư gia phần nhiều bị đổ nát, chìm đắm. Dân Thừa Thiên chết đuối hơn nghìn người. Vua sai quan tích cực phát chẩn. Tháng 9.1894, Thừa Thiên bị lụt to, nhà đổ, hoa màu bị thiệt hại nhiều, lại thêm một trận cuồng phong bất thần nổi lên vùi chết nhiều người dân lênh đênh sông nước Tam Giang. Hai người con trai của danh nhân văn hóa Nguyễn Lộ Trạch bị chết đuối trong cơn cuồng phong này. Tháng 9.1904, Thừa Thiên bị bão lớn, về sau gọi là bão năm Thìn. Bão đã tàn phá rất nhiều công trình kiến trúc trong kinh thành, đánh sập cầu Trường Tiền, đánh sập chợ Đông Ba, chùa Thiên Mụ hư hỏng nặng. Sóng thần giết chết nhiều ngư dân đầm phá, cuốn trôi nhiều thuyền bè đánh cá và thuyền vận tải ra biển. Ngày 22 đến ngày 25 tháng 9.1953, một trận lụt chưa từng có trong lịch sử trước đó đã đổ xuống Thừa Thiên. Mực nước cao, sức chảy mạnh đã cuốn trôi nhiều làng mạc, nhiều công trình kiến trúc. Hơn 500 người chết, 1290 ngôi nhà bị trôi, 300 trâu bò bị cuốn trôi. Tại Huế nước tràn vào Thành Nội, sức nước quá mạnh làm sập cửa Quảng Đức (nên sau này người Huế thường gọi là cửa Sập, đã được trùng tu năm 2002). Ngày 26.10.1983, bão cấp 12 suốt 8 giờ liền. Từ ngày 30.11 đến 1.12 mưa rất lớn và lụt to, mực nước sông Hương vượt báo động 3 là 0,35m, đã làm chết 252 người, bị thương 115 người, 21.000 ngôi nhà bị sập, 1.511 nhà bị trôi, 2566 trâu bò chết, 2 vạn con lợn bị chết trôi, thiệt hại rất lớn. Tháng 6.1985, Thừa Thiên bị bão số 1 gây ngập lụt trên 1 vạn ha lúa và hoa màu. Tiếp đó gió tây nam kéo dài chưa từng có làm trên 10.000 ngôi nhà tốc mái. Từ 1.10, bão số 7 kèm theo mưa to, nước đổ về đột ngột cuốn trôi nhiều người và tài sản, hủy hoại đường sá. Từ 15-16.10 năm ấy, bão số 8 giật trên cấp 12 xoáy qua thành phố Huế suốt 5 giờ, tàn phá khốc liệt 13/14 huyện, thị thành, gây tổn thất vô cùng nghiêm trọng về người và tài sản. Chỉ riêng nửa đầu tháng 10.1985 bão lụt đã làm 604 người chết. Riêng gia đình của Nguyễn Văn Trắm ở Cồn sơn, xã Phú Thuận, cả nhà có 28 người thì đã có 24 người chết và mất tích. Tháng 9.1995, lụt bão làm 11 người chết, 8 người mất tích, thiệt hại tài sản trong dân lên đến trên 30 tỷ đồng. Tháng 11.1998, lụt lớn với mức nước sông Hương vượt báo động 3 là 0,5m, làm 957 nhà bị sập, trôi, 120 thuyền đắm, 25 người chết. Từ ngày 1 đến ngày 6 tháng 11.1999, TT-Huế xảy ra trận lụt lịch sử. Lượng mưa lớn liên tục nhiều ngày lên đến 2300mm, cao nhất trong chuỗi số liệu mưa trên lãnh thổ Việt Nam hơn 100 năm nay. Tại Huế, mức nước sông Hương vượt báo động 3 là 1,7m. Nước cuốn trôi làng Hòa Duân và mở cửa biển mới ở đó. Lũ lụt làm 375 người chết và mất tích, 94 người bị thương nặng, tổng thiệt hại lên đến 1.800 tỷ đồng, ước bằng tổng thu nhập bình quân của TT-Huế 7 năm liền trên số dân 1 triệu người. Tháng 12.1999, TT-Huế lại có trận lụt muộn rất lớn, mức nước sông Hương vượt báo động 3 là 0,73m, khỏang 54,000 ngôi nhà bị ngập nặng, làm 5 người chết và hàng ngàn ngườilâm vào cảnh màn trời chiếu nước. Mới đây, từ ngày 25-27.11.2004, TT-Huế có trận lụt lớn chỉ sau trận lụt lịch sử 1999. Nước sông Bồ chỉ thua đỉnh lũ 1999 chừng 0,3m. Có 6 người chết.

Các trận lụt về sau này càng diễn biến phức tạp và mức độ hung dữ rất lớn, song do chính quyền và nhân dân đã tổ chức phòng chống, cứu hộ cứu nạn tốt hơn, thiệt hại về người và tài sản cũng đã ít hơn. Điều đáng nói là tình người xứ Huế sau mỗi kỳ mưa lũ lại đầy hơn, lâu dần tích tụ thành một phép ứng xử đặc biệt của người dân xứ Huế. Phép ứng xử ấy có tên là: tình người trong mưa lũ.

Phước Vĩnh


Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

TẢN MẠN HUẾ

Mưa Huế, giọt nhớ, giọt thương...


Ai đó đã nói rất đúng rằng đến Huế mà chưa được thăm lăng tẩm Hoàng cung thì coi như chưa đến Huế. Tôi vẫn muốn nói thêm: đến Huế mà chưa được dong duỗi trên các con đường để tắm mình trong những cơn mưa rả rích, dìu dịu, lâm thâm thì cũng coi như chưa một lần đến Huế.

Kéo dài suốt từ tháng 9 âm lịch cho đến Tết, mưa Huế dai dẳng trùm lên cả mùa thu và mùa đông của xứ sở này.

Tự xa xưa, người dân chốn kinh thành đã cảm về mưa Huế trong âm thanh sầm sịch của biển đông gọi gió, trong tiếng rơi nặng hạt đe doạ con nước tràn bờ:

"Sóng sầm sịch lưng chừng ngoài bể bắc

Hạt mưa tình rỉ rắc chốn hàng hiên

Muốn làm lơ đi mà ngủ cho yên

Sợ mưa già nước ngập, biết tựa con thuyền nơi mô!"

(Dân Ca Thừa Thiên)

Duyên dáng, nũng nịu, người dân Huế tự xưa âu yếm gọi hạt mưa xứ mình là "hạt mưa tình". Cũng như cô gái Huế, mỗi mùa đi qua, mưa Huế gọi về những giọt nhớ, giọt thương, nhẹ nhàng và sâu lắng, trầm tư tựa như nét duyên thầm, nghe như tiếng dạ thưa ngọt lịm... Người Huế yêu vô cùng đất trời, thành quách; người Huế nhớ vô cùng hạt lệ trời ban...

Một người Huế, sống xa quê, một lần so sánh: hạt mưa Huế vừa nặng, vừa sâu, từ từ, chầm chậm, trong khi đó cơn mưa Sài Gòn rộ lên rồi tắt làm người ta chưa kịp nhận ra độ nặng nhẹ của giọt mưa: Mừa xứ Bắc thì phơi phới bay, thiếu đi độ nặng, độ dày. Huế vào mùa mưa, đất trời tắm mình trong muôn ngàn hạt dong. Có lẽ, gọi mưa Huế bằng giọt mới đúng hơn. "Giọt Huế"- tặng phẩm tạo hoá ban cho để muôn đời cố đô nâng niu, thương nhớ...

Con người- thiên nhiên hài hoà, quyến rủ. Ai đó nói rằng thiên nhiên là một phần của tâm hồn con người, là nơi trú ngụ của những trái tim đa cảm và thanh cao. Vậy thì mưa Huế là một phần của tâm hồn Huế vậy! Nghe trong mưa tiếng nói của nỗi niềm. Ôi da diết.

Đâu chỉ có lửng lơ chuông chiều, đâu chỉ có thành quách cổ kính, mưa Huế níu giữ bước chân ai một sớm một chiều... Giọt mưa dệt thành giọt nhớ để cho ai chẳng nỡ ra về.

Nghe trong mưa lời thì thào của gió của mây. Cửa bước chân lãng du phiêu bồng nơi bến vắng. Nét Huế gọi về trong mỗi tiếng mưa rơi.

Tôi lặng bước giữa chiều mưa xứ Huế

Con đường gầy, đơn chiếc bóng tôi đi

Gió chiều nay quên lạnh phải chăng vì

Lòng cứ ngỡ từ xa anh sẽ đến...

(Huế chiều mưa- Linh Chi)

Bởi "nỗi niềm chi rứa" nên thành Huế mới phủ trắng một màu mưa để cho đất trời đượm buồn man mác. Thấp thoáng bên hiên nhà, con người xứ Huế vốn đã ít lời nay lại lại càng lặng lẽ hơn. Gởi vào trong "giọt nhớ, giọt thương" những chuỗi ngày thơ dại để giấu trong nốt nhạc rỉ rắc cho bao kỷ niệm mến yêu mãi đong đầy:

"Mẹ đưa con về thăm ngoại chiều mưa

Ôm cháu vào lòng, ngoại bảo:Giọt thương của ngoại

Giờ nhìn nước mắt rơi dài theo máng xối

Trên mái nhà là giọt nhớ của ai..."

(Hải Bằng)

Xa Huế từ tuổi ấu thơ, cơn mưa Huế đã đưa Hải Bằng về với ngoại để được nũng nịu, để sống lại những giây phút hạnh phúc, sum vầy. Và anh gọi mưa Huế là "nước mắt rơi dài", rồi "giọt nhớ của ai". Con Nguyễn Loan thì lại trở về trong mùa Huế mưa nghiêng, để "Tình ai giăng lưới che hờ. Tóc mưa xõa kín đôi bờ sông đêm".

Mưa Huế sao nghe da diết quá! Những hạt mưa như cởi mọi u buồn, gắn kết những người con xứ Huế, níu kéo tâm hồn những người đi xa. Giọt thương, giọt nhớ, giọt lệ... mỗi giọt mưa Huế gắn với cuộc sống, tình yêu của mỗi con người, "trận mưa nào cũng đọng giọt tâm tư" (Hải Bằng). Có sống với Huế, với mùa mưa mới thấm thía để khi đi xa lại " thèm" chút mưa trên "đất mẹ". Hãy chia sẽ nỗi nhớ rất đỗi dễ thương mà có sức nặng đến se lòng của Hồ Đắc Thiếu Anh để yêu hơn mảnh đất này:

"Khi mô anh về thăm Huế xưa

Nhớ gói giùm em một chút mưa

Gói thêm mớ lạnh từ chân tóc

Buốt thấu buồng tim vẫn chưa bưa

Thôi thì:

Hẹn Huế mùa sau sẽ về thăm

Thăm từng cái lạnh dấu trong chăn

Nghe mưa rả rích trong đêm vắng

Để nhớ vô cùng những tháng năm"

(Hồ Đắc Thiếu Anh)

Gọi về trên từng góc phố, hàng cây, mưa làm cho những đền đài thành quách cố đô vốn đã bàng bạc màu thời gian nay lại phủ thêm một màu rêu phong cổ kính. Dường như mưa đang gọi quá khứ về cho những di tích xưa... để ngàn năm con nâng niu, gìn giữ...

"Chiều ni xứ Huế dầm mưa

Sen gia đôi cụm lưa thưa mặt hồ

Một người biền biệt nơi mô

Hoàng thành trầm lặng, cố đô não nùng."

(Xưa Huế chiều mưa- Mai Văn Hoan)

"Trầm lặng" để lắng sâu, cất giữ mãi cõi lòng, để nghe bâng khuân, xao xuyến, nghe dìu dịu, rưng rưng cho mỗi giọt nhớ, giọt thương...

Mỗi mùa mưa về, mệ tôi hái khế xuống dầm để nấu canh trong mùa lụt. Khế dầm nước mưa nấu canh cá lóc sẽ ngọt hơn nhiều so với khế hái từ cây. Ông thì vội vã đem áo quần ra giặt, ông cười hiền "áo trắng lắm con ơi"... Tần tảo trên vai đòn gánh dẻo, cô gái Huế xõa tóc thề gánh hàng đến chợ, nghe trong tiếng mưa rơi bước chân duyên gánh cả cơn mưa đất trời đến chợ, tạo nét Huế thầm gom nỗi nhớ mùa đông. Giọt Huế- giọt mưa, giọt bền bỉ, dẻo dai, giọt trong mắt mẹ, mắt bà, giọt vai gầy, giọt duyên thầm của em... Thương lắm ơi mưa Huế, giọt thương, giọt yêu...

Trích “Mưa Huế” (Trần Văn Toản)


Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

CHUYỆN HUẾ

Chuyện Huế ít người biết

Tại sao lại gọi là Ngựa Thượng Tứ?

Ở Huế, khi nói về một người đàn bà hung dữ, có lời ăn tiếng nói thô lỗ, cử chỉ vùng vằng, người ta thường ví kẻ đó như Con ngựa Thượng Tứ. Thượng là thuộc về của Vua. Tứ là xe bốn bánh do ngựa kéo. Gần cửa Đông Nam, một trong tám cửa của kinh thành Huế, xưa có khu vườn nuôi ngựa để kéo xe cho vua. Những con ngựa này thường là dữ dằn phải do đội phi kỵ vệ và khinh kỵ vệ nuôi dạy, huấn luyện cho ngựa trở nên thuần. Người đàn bà dữ dằn lúc nào cũng lồng lên như ngựa chứng thì có gọi là “ngựa Thượng Tứ” cũng đúng thôi. Cửa Đông Nam vì ở gần khu Thượng Tứ nên cũng được dân Huế gọi luôn là cửa Thượng Tứ, không ai còn để ý đến hai chữ Đông Nam ghi trên vọng lâu nữa.

Chợ Đông Ba hay chợ Đông Hoa?

Chợ Đông Ba, ngôi chợ lớn nhất trong các chợ ở Huế, vốn có tên thật là chợ Đông Hoa – cửa Đông Ba xưa cũng gọi là cửa Đông Hoa. Đây là một cái tên do ta bắt chước Trung Quốc. Thời Tần Thủy Hoàng bên Tàu cũng có một cái cửa gọi là cửa Đông Hoa. Chỉ vì tránh phạm húy mà người Huế phải gọi trệch ra là Đông Ba vì tên Hoa là tên của bà Hồ Thị Hoa, vợ vua Minh Mạng, được phong Tá Thiên Nhân hoàng hậu, gốc người Biên Hòa (Nam Bộ).

Nếu ta nghe người Huế xưa gọi “Ánh sáng” là “Yến sáng'” thì cũng đừng ngạc nhiên vì họ sợ phạm húy bởi “Ánh” là tên vua Gia Long nên phải đổi ra thành Yến.

Lão thi ông Ưng Bình Thúc Giạ khi làm thơ cũng đổi chữ “cánh phồn hoa” ra “cánh phiền ba” bởi hơn ai hết, ông phải kỵ húy vì ông là người trong Hoàng tộc.

Bắt trẻ con làm cá, lấy trấu làm tép!

Nhân vùng biển Thuận An sắp trở thành thị xã, xin kể vài tục lạ của người dân vùng biển này có từ thời xa xưa.

Dân chài lưới ở Thuận An rất sùng bái nữ thần Thái Dương vì vị thần này đã nhiều phen giúp họ làm ăn phát đạt. Họ lập miếu thờ và mỗi năm, cứ đến ngày 23 tháng chạp âm lịch lại tổ chức lễ hội, trang điểm cho tượng thần, bày ra các trò vui chơi và cúng tế để cầu yên. Họ thường nhắc câu: "20 làm tốt, 21 xâu tai, 22 đeo hoa, 23 tế Nhân". Xâu tai, đeo hoa là làm đẹp cho tượng thần và Nhân là tên của nữ thần Thái Dương.

Ngư dân ở đây đã lấy lưới vây trên bến cạn, bắt một số trẻ em trần truồng cho vào trong lưới giả làm cá vừa lưới được, xong nhiều người đem rổ rá đến mua. Cũng diễn ra cảnh chọn cá và kỳ kèo, trả giá, xong thì đem bọn trẻ sang bờ bên kia thả cho chúng chạy.

Họ cũng dùng trấu giả làm tép biển và lấy vợt xúc lên, giả như đang thu hoạch. Tiếp sau đó, có những trò vui như đua trải, nhậu nhẹt và hát bội cho dân làng xem.

Người Huế mà không được nói... tiếng Huế!

Đó là lệnh cấm đối với các thiếu nữ được tuyển vào làm cung phi trong Nội, dưới triều Nguyễn. Họ không được nói rặt giọng Huế mà phải nói y như giọng dân Phường Đúc. Phường Đúc là khu quần cư tập trung các người thợ đúc đồng tài giỏi do triều dình tuyển từ Bắc vào hoặc trong Nam ra. Họ là tác giả của chuông chùa Linh Mụ, Cửu vị Thần Công và Cửu Đỉnh ở Huế. Những sản phẩm của họ dãi nắng, dầm mưa, trải bao tuế nguyệt đến nay vẫn chẳng chút nứt rạn hay có tì vết gì. Họ mang theo gia đình ra làm ăn sinh sống lâu ngày ở Huế nên hòa đồng ngôn ngữ với dân địa phương. Dân Phường Đúc không nói rặt một giọng nào mà pha trộn nửa nọ, nửa kia. Các cung phi trong Nội phải bắt chước giọng Phường Đúc, nghĩa là vừa nói nửa Trung, nửa Nam, ai không tuân thì bị tội. Tại sao lại có hiện tượng này? Kể cũng khó hiểu. Và lệnh này có từ đời nào? Có người đưa ra giả thuyết: có lẽ chuyện này xuất phát từ thời bà Từ Dũ vốn là một phụ nữ Nam Bộ, con gái của Đại thần Phạm Đăng Hưng, người Gia Định. Bà được phong Nghi Thiên Chương Hoàng hậu, lấy vua Thiệu Trị, đứng đầu bộ phận “hậu cần” của Hoàng đế, có nhiều quyền uy đối với các cung phi khắp ba cung, sáu viện. Có lẽ bà muốn những người dưới tay mình phải dùng giọng nói pha âm sắc Nam Bộ để trao đổi cho dể hiểu chăng, bởi vì người Tân Hòa – Gia Định nghe giọng Huế “đặc sệt” có thể không hiểu mô tê chi cả.

Cũng có thể lệ này xuất hiện sớm hơn, từ thời Minh Mạng vì ông này nổi tiếng là ông vua có nhiều vợ và phần lớn là người miền Nam.

Về giọng nói Phường Đúc thì cho đến nay, thời gian qua quá lâu, trải nhiều thế hệ, giọng nửa Nam nửa Trung đã trở thành Huế rặt.

Ngoài ra còn có một hiện tượng buồn cười khác là các người làm việc trong nội dù là cung phi, lão tỳ, thị tỳ, nô nhân hay nê nhân, lúc mới vào đều phải tự nguyện “câm” đi trong thời gian sáu tháng. Suốt thời gian này, họ không nói gì cả hoặc nói rất ít. Không nói vì sợ phạm húy, lỡ mồm lỡ miệng thì mang họa vào thân. Chờ khi nào thuộc lòng những chữ “nên tránh” gồm trọng húy và khinh húy, hoặc những chữ cấm nói như: chết chóc, đui què, máu me, phong hủi... vì những từ này mang điềm gỡ hoặc thô tục, lúc đó họ mới được phép... hết câm.
Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

PHONG TỤC - HUẾ

Thành Ngữ Huế

Ăn chưa no lo chưa tới: ý nói người đang còn nhỏ tuổi, non dại.

Ăn chực nằm chờ: chờ đợi (Ra tỉnh xin giấy tờ phải ăn chực năm chờ cả tháng).

Ăn coi nồi, ngồi coi hướng: ý nói ăn uống phải dè dặt để ý trước sau, và cũng phải lựa chỗ ngồi ăn cho thích hợp với địa vị của mình.

Ăn cỗ đi trước lội nước đi sau: khôn ngoan ở đời.

Ăn cơm chúa múa tối ngày: lãnh lương của chủ phải làm việc đàng hoàng (Ở Mỹ đi làm việc cũng có tiền nhưng phải làm việc cho đàng hoàng, ăn cơm chúa múa tối ngày).

Ăn cơm nhà vác lá ngà cho quan: tức cũng như "Ăn cơm nhà vác ngà cho thiên hạ". Hồi xưa, triều Nguyễn dùng chế độ trưng dụng nhân công, dân đinh trai tráng để làm việc công ích như làm đường, đồn lũy... Tre lá ngà là thứ tre màu vàng thường dùng để làm nhà, rất nhiều ở thượng nguồn Thừa Thiên.

Ăn cơm cùng mâm nằm cùng chiếu: chia xẻ với nhau (Bạn nối khố thường là bạn ăn cùng mâm, nằm cùng chiếu).

Ăn ở như bát nước đầy: ăn ở trọn tình trọn nghĩa (Vợ chồng ăn ở với nhau như bát nước đầy).

Ăn lấy hương lấy hoa: Ăn cho có lệ, ăn chút xíu để khỏi bị trách móc (Tuy đã ăn ở nhà nhưng đến bàn tiệc cũng phải ăn lấy hương lấy hoa kẻo bị chê là khinh thường gia chủ).

Ăn không ngồi rồi (không nghề không ngỗng): vô nghề vô nghiệp (Ăn không ngồi rồi, núi bạc cũng lở).

Ăn mắm mút dòi: hà tiện quá sức

Ăn như thúng lủng khu: ăn mấy cũng không vừa (Đàn ông con trai ăn như thúng lủng khu).

Ăn tươi nuốt sống: 1. giận quá (Hắn lừa bẫy tui, tui muốn ăn tươi nuốt sống hắn). 2. hơn trội hẳn (Thi toán thì tui ăn tươi nuốt sống hắn).

Ăn quen bén mùi: quen thói (Ăn quen bén mùi tên trộm trở lại nên bị bắt).

Ăn xổi ở thì: không chung thuỷ, không bền, tạm thời (Những kẻ ăn xổi ở thì chẳng ai ưa thích).

Ẩu tả bạt mạng: liều lĩnh (Tánh người ẩu tả bạt mạng).

Bước một ao hao một đọi: lời mời khéo để mời khách dùng cơm (Tuy anh đã ăn rồi, nhưng bước một ao hao một đọi, xin mời anh dùng vài chén cơm cho vui).

Cắn không ra, cà không bể: khó ăn, gặp đồ "ăn không được" (Mua lầm thứ đậu xanh "cắn không ra, cà không bể". Chua lắm, hắn mà cho cái chi thì cái nớ cũng là thứ "cắn không ra, cà không bể").

Cha mẹ nói oan, làm quan nói hiếp, chồng có nghiệp nói thừa: thân phận làm con, làm dâu và làm vợ ngày xưa thường bị ức hiếp.

Cha mẹ sinh con, trời sinh tính: tánh tính mỗi người tự nhiên phát triển.

Cháo nóng húp quanh, nợ trả dần: thủng thẳng giải quyết vấn đề (Có chi mà sợ, cứ từ từ mà tính, đã có câu "cháo nóng húp quanh, nợ trả dần" mà).

Cháy nhà ra mặt chuột: khi nguy hiểm mới biết rõ sự thật.

Chỉ đường cho hươu chạy: đồng lõa, giúp bày vẽ đường đi cho người khác thoát khỏi cảnh ngặt nghèo (Cùng là một phe mà lại chỉ đường cho hươu chạy, định làm phản hay răng đây?).

Chó ăn đá gà ăn muối: xứ khô cằn cỗi (Hết bắt tui vô thâm sơn cùng cốc nay lại cho chỗ ăn đá gà ăn muối, đày ải tui rứa là cùng).

Chó sủa sáng trăng: chó sủa đổng. Nghĩa bóng: chuyện không có gì mà cũng làm ồn ào, nói ồn ào cho có chuyện.

Chọn chồng giữa chốn ba quân: gái khôn phải khéo chọn chồng lúc còn hàn vi để sau giúp chồng trở nên thành đạt.

Chọn vợ coi tông, chọn chồng coi giống: đàn bà làm vợ quý nhất ở đức hạnh và chung thủy, thường do gương mẹ mà có. Đàn ông cần giống tốt, dòng tốt để có con nối dõi tông đường.

Chồng chúa vợ tôi: câu thường dùng để nói đến các ông chồng người Huế, hay bắt vợ hầu hạ mình (Người Huế chồng chúa vợ tôi. Ngẫm xem chưa biết ai là chúa ai. Trời dông ngày ngắn đêm dài. Vợ ho một tiếng, bẩm bà đòi chi- Ca dao Huế). Tuy nhiên, vợ chồng người Huế thường hay có cảnh "chồng kêu vợ dạ" biểu hiện lễ nghi truyền thống của các gia đình vọng tộc dễ bị người ngòai hiểu lầm là "chồng lấn áp vợ". Đó chỉ là cảnh vợ chồng hòa thuận, biết lấy lễ nghĩa đối xử với nhau của người Huế.

Chổng mông vắt xôi: khi em bé chổng mông hoặc vắt tay vào nhau, người lớn thường nói với cha mẹ em bé "em bé muốn có thêm em để làm bạn", ngụ ý muốn có thêm con cháu sau này.

Chỗ chó ăn đá gà ăn muối: (chỗ ma chê quỷ hờn) chỗ heo hút, nghèo nàn (Ăn nói không khéo bị mất lòng cấp trên nên anh nớ bị đổi đến chỗ chó ăn đá gà ăn muối).

Chơi dao có ngày đứt tay (Huế nói chữ): không đùa với lửa.

Chuyện ba đồng bảy đổi: chuyện loanh quoanh (Ngồi buồn nói chuyện ba đồng bảy nổi).


Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

ẨM THỰC HUẾ

Mắm Sò Lăng Cô

Gỏi sò huyết - đặc sản Lăng Cô Huế

Lăng Cô là vùng đất cuối cùng phía Tây Nam trên bản đồ tỉnh Thừa Thiên - Huế. Nơi đây, một bên là bờ cát trắng, một bên là đầm An cư. Phong cảnh non xanh núi biếc và biển cả trùng trùng ôm lấy làng biển Lăng Cô bé nhỏ nhưng lâu đời và bền vững.

Ấn tượng về Lăng Cô không chỉ là phong cảnh nên thơ, bờ biển thoai thoải trở thành bãi tắm lý tưởng cho mọi lứa tuổi mà Lăng Cô còn là nơi có nhiều sản phẩm phong phú, quý hiếm của một vùng đầm phá nước lợ và biển xanh: tôm, cua, mực, sò huyết. Đặc biệt mắm sò Lăng Cô có quanh năm mà không nơi nào có được.

Từ con sò trở thành mắm sò là một quá trình sáng tạo của người dân Lăng Cô và cũng không ai nhớ nghề làm mắm sò có tự bao giờ. Làm mắm sò rất kỳ công. Ngư dân đi cào sò về, những người làm mắm tập trung lại quanh thau sò, lấy dao mũi nhọn để chẻ sò. Tuy nhiên không phải ai chẻ sò cũng được. Muốn làm mắm ngon và không hư thối, sò chẻ ra phải giữ nguyên ruột. Sò chẻ xong người ta đem sàng cho sạch cát và xả hết nước đục, sò để ráo rồi đem ra làm mắm. Để làm mắm, người ta lấy sò, ớt bột, củ riềng, đậu xanh rang, muối bột trộn đều ở thau, rồi cho chúng vào khoảng hai phần ba chai, đậy kín lại. Trong khoảng từ 10 đến 15 ngày, nước sò đọng ở đáy chai cỡ 2 lóng tay. Bấy giờ mắm đã chín, ta có quyền thưởng thức món mắm đặc sản Lăng Cô.

Trước khi đưa mắm sò vào bữa ăn, người ta thường trộn vào đó các thứ gia vị, nhất là trái vả xắt mỏng hay đu đủ thái sợi. Hương vị của mắm sò vốn đã thơm ngon, lại càng thơm ngon hơn khi được tăng cường thêm vị béo của thịt heo. Cũng như mắm sặt, mắm thái của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, mắm sò rất thích hợp với các loại rau. Từng cuốn rau cầm êm mát trên tay, chấm mắm sò, cho vô miệng, cắn trái ớt xanh cái bụp, nhẩn nha nhai, bảo đảm không gì đậm đà bằng.

Cùng với tôm chua, ruốc, mắm sò Lăng Cô là ăn đặc sản của vùng đất cố đô. Du khách có thể mua mắm sò làm quà cho bạn bè, người thân trước khi lên đèo Hải Vân về phương Nam, hay sau khi qua đèo ra Bắc. Chắc chắn đây sẽ là món ăn lạ miệng, ngon và bổ.

Theo báo Cần Thơ.
Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

ẨM THỰC HUẾ

Ăn Chay ở Huế

Tiểu Kiều

Rau xanh- sự lựa chọn của người ăn chay

Huế - một thời vua chúa - là thủ phủ của Phật giáo - nơi có nhiều chùa chiền và tăng ni và phần lớn người Huế từ tầng lớp quý tộc đến giới bình dân đều ăn chay, người ăn chay trường (quanh năm suốt tháng), người ăn chay kỳ (một tháng hai lần).

Thời gian gần đây, do đời sống kinh tế khá giả, cao lương mỹ vị đầy đủ nên có nhiều người thích ăn chay như là một kiểu đổi thực đơn cho lạ miệng. Để phục vụ nhu cầu này, người nội trợ đã tìm tòi, sáng tạo, chế biến những nguyên vật liệu thảo mộc thành những thực phẩm chay ngon tươi bổ dưỡng. Do vậy các món ăn chay ở Huế rất phong phú, có những món được chế biến cầu kỳ và ngon tuyệt vời không thua gì món mặn sơn hào hải vị, nem công chả phụng của người trần tục.

Thông thường bữa ăn chay của người bình dân rất đơn giản, dễ làm: xì dầu, muối đậu phụng, muối sả, khuôn đậu (đậu phụ) kho, chiên, rau cải luộc, xào, chao tương là đủ, riêng đối với tầng lớp quý tộc giàu sang thì ăn uống không thể đạm bạc nên người ta phải chế biến thêm những món độc đáo, chay giả mặn ngon lành tuy không công kỷ lắm song cơ bản mâm cơm phải có nhiều món cao cấp hơn.

Đặc biệt, thực đơn của bữa tiệc chay đầy cả nghệ thuật nêm nấu lẫn trình bày đẹp đẽ sang trọng, mỗi món dọn một ít, đây cũng là một nét độc đáo của ẩm thực Huế, chính sự ít ỏi nhỏ nhoi ấy tạo cho người ăn cảm giác thòm thèm muốn được ăn thêm chút nữa. Và mỗi món ăn được bài trí như là một bức tranh đẹp của người nghệ sĩ tài hoa, quả như ý tưởng của nhà văn Võ Phiến " Người phụ nữ Huế luôn nấu ăn bằng cả tâm hồn".

Đầu tiên là món khai vị: cà rốt, đu đủ.. được tỉa tót thành những hoa trái làm chua ngọt bày ở giữa dĩa, xếp vòng tròn xung quanh những lát chả phù chúc được làm từ lá phù chúc màu vàng mơ, cũng nêm tiêu muối, nước tương, dầu phi burô, bó tròn, luộc chín như chả bò, chả heo vậy, xen lẫn với chả phù chúc là mì căng gói bánh tráng chiên dòn làm nem rán…

Món súp măng cua được nấu từ bắp non, nấm rơm, hạt sen hay món cao lầu là phù chúc gói mỳ căng với một ít khuôn đậu giã nhuyễn nấu với cà rốt, nấm , su lơ … nước hầm ngọt như nước phỏ vậy.

Chỉ cần ra chợ là có thể mua tất cả cá món giả mặn: giả thịt gà, thịt heo, thịt bò đóng gói hợp vệ sinh để chế biến những đùi gà rán thơm phứt, gà xé phay béo ngậy, típ bò nấu với khoai tây, cà rốt nấm hương, hay món gà nấu đậu hộp, bắp hộp ăn với bánh mỳ.

Món lẩu vô cùng hấp dẫn: khuôn đậu nấu với su su, cà rốt ,đậu bắp, nấm … tổng hợp một nồi nóng hổi ăn với bún hay mỳ sợi rất ngon.

Cơm xôi thập cẩm y như dĩa cơm thập cẩm của quán cơm Âm phủ vậy, ăn no song nhẹ bụng.

Món vả trộn, mít trộn xúc bánh tráng là món tuy rẻ tiền nhưng rất đặc sắc, làm khá công phu và nhiều người thích, thèm.

Mì xào khô, mì xào dòn, phở, cháo bổ sung cho mâm tiệc chay nhiều hương vị đặc sắc.

Trong bữa tiệc chay người ta cũng thường bày biện thêm các loại bánh bèo, nậm, lọc, ướt, ít, khoái, chất bột giống bánh mặn, khác nhau ở chỗ nhân chay.

cơm Tịnh Tâm

Món ăn chay của nhà bình dân hay tiệc tùng sang trọng đều luôn có món chao - là một món ăn, một gia vị nêm nấu như ruốc của món mặn vậy. Chao có gốc từ đậu nành - loại thực vật có lượng đạm cao gấp đôi thịt cá, từ đậu nành chế biến thành đậu khuôn, đậu khuôn ủ lên men thành chao, chao có mùi thơm vị béo, bảo quản được lâu ngày.

Ăn chay theo quan điểm của Phật giáo là nuôi dưỡng pháp thiện, tăng trưởng can lành và phát triển tình thương yêu bao la đối với mọi người, mọi loài.

Mâm chay thường có nhiều món nên người ăn hấp thụ được nhiều chất dinh dưỡng, thay đổi món tạo được sự hứng thú lúc ăn.

Khoa học đã chứng minh rằng nhờ ăn chay mà con người khoẻ mạnh sống lâu, có nhiều chứng bệnh nan y được thuyên giảm bởi nhờ chất bổ dưỡng lấy từ thảo mộc tinh khiết nguyên vẹn hơn chất bổ của động vật, cơ thể con người do vậy mà tiếp nhận được một lượng sinh tố và khoáng chất trong thảo mộc tốt hơn so với thực phẩm chế tạo.

Quan trọng hơn, ăn chay cho thanh tâm nhẹ nhàng thanh khiết, nuôi lớn tình thương mà loại bỏ sân si trần thế, nhờ đó mà cuộc sống tốt đẹp, cuối cùng là cảm giác thanh thản an tâm của người được thưởng thức bữa ăn chay sau khi thành tâm lễ Phật.
Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

ẨM THỰC HUẾ

Món vả xứ Huế

Ngô Minh

Cây vả họ sung nhưng cây thấp, lá to và quả to hơn quả sung nhiều lần. Quả sung chát còn quả vả lại bùi. Cây vả sống âm thầm ở góc vườn, cũng do người trồng, nhưng tươi tốt bốn mùa lại nhờ vào đất trời là chính. Cây vả cho bóng mát, cho lá để gói quà bánh, rau dưa, tôm cá cho khách, còn quả vả góp mặt trong nhiều món ăn nổi tiếng làm nên văn hóa ẩm thực Huế.

Vả không thể thiếu trong đĩa rau sống ăn kèm với các món đặc Huế như bánh khoái, nem lụi, bún thịt nướng, bánh cuốn thịt nướng, bê thui, v.v. Miếng bê thui thì đâu cũng giống nhau, nhưng kẹp với lát vả rồi chấm mắm nêm cá cơm, mắm nêm cá nục ớt cay hít hà thì đã thành món hương vị Huế rồi! Quả vả non, rửa sạch, gọt vỏ, bổ đôi, lấy mũi dao cạo sạch ruột quả rồi thái mỏng theo hình ngang của quả. Thái vả phải thái vào chậu nước sạch có bỏ ít muối để tiệt trùng và giữ cho vả không thâm mà có mầu trắng vàng, khi dọn ăn mới vớt ra.

Vả không chỉ dùng làm rau sống ăn ghém, mà từ quả vả người Huế chế biến ra rất nhiều món ngon như: vả kho thịt lợn, thịt bò, kho cá rô, cá diếc, vả xào, vả trộn, vả muối, vả chua ngọt, v.v. Trong món vả kho thịt, vả là nguyên liệu chính, thịt là phụ. Khoảng ba bốn vả kho với một thịt. Vả để kho phải thái dày cắt thành miếng vuông hoặc tam giác cùng kích thước với miếng thịt rồi cho vào nước muối để giữ mầu cho vả trắng. Thịt lợn nạc, thịt lợn ba chỉ hay thịt bò thái quân cờ, ướp gia vị tiêu, hành (thịt bò thì tỏi, gừng), mì chính, nước mắm, muối, v.v. Thịt kho trước, khi sôi cho vả vào, trộn đều, kho tiếp. Gần chín thì cho tý bột nghệ để lấy mầu. Miếng vả kho thịt ăn thấm tháp và ngon miệng hơn miếng thịt. Có thể ăn mãi không ngán. Còn món vả muối, vả chua ngọt thường làm để nhấm rượu ngày Tết hay tiệc tùng. Vả chua ngọt chế biến cũng giống như hành, củ cải, cà rốt chua ngọt vậy.

Trong nhiều bữa tiệc gia đình và ngày Tết ở Huế đều có món vả trộn. Sách Nghệ thuật nấu món ăn Huế của bà Hoàng Thị Cúc, người đã "cho" thi sĩ Hàn Mặc Tử cảm hứng viết nên bài thơ nổi tiếng "Ðây thôn Vĩ Dạ", cũng giới thiệu món vả trộn này. Ở Khách sạn bốn sao Hương Giang hay dọn tiệc bằng món vả trộn bánh tráng xúc, món đã từng được chị Hoàng bếp trưởng trước đây đi thi nấu ăn toàn quốc đoạt huy chương vàng. Ðĩa vả trộn mầu sáng hồng, điểm tý hành lá xanh, những hạt da lợn óng ánh, những con tôm hồng trông rất hấp dẫn. Món vả trộn nguyên liệu rất rẻ, gồm vài quả vả, lạng thịt lợn nạc, tôm, da heo, bánh tráng, nửa lon mè và rau, gia vị. Chế biến như sau: nấu nước thật sôi, bỏ quả vả vào luộc kỹ, cho đến khi có thể dùng tay xát vỏ xanh bên ngoài quả vả đi dễ dàng là được, xong cho vào nước lạnh cho nguội mới gọt vỏ. Thái mỏng, xong dùng tay vắt từng vắt hoặc bọc trong vải màn vắt mạnh cho sạch hết nước chát, đến khi quả vả thật khô kiệt. Sau đó bóp vả tơi ra, đựng vào các chậu, soong, v.v. Mè rang vàng, xát vỏ rồi giã nhỏ. Thịt nạc và da lợn luộc chín, thái hạt lựu, ướp hành, tiêu, mắm, muối, mì chính, ớt bột thật kỹ. Tôm luộc, bóc vỏ. Nếu chơi sang, dùng loại tôm sú to thì sau khi bóc vỏ xong, người ta dùng dao chẻ tôm ra từng thỏi nhỏ. Xong trộn tôm, thịt, da, vừng vào vả cho thật đều. Khi dọn lên đĩa, người ta rắc thêm đậu phộng rang giã giập lên trên mặt, sau đó rắc các thứ rau thơm như hành lá, ngò tây lên trên. Ðĩa vả trộn vàng óng, tôm hồng, rau xanh trông rất ngon mắt. Bánh tráng gạo nướng vàng, bẻ từng miếng xúc vả trộn mà nhâm nhi với rượu ngon thì không có thứ gì "bắt" bằng!


Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

ẨM THỰC HUẾ

Bắp chuối làm ngon tiệc Huế

Ngô Minh

Bắp chuối là thứ gia vị không thể thiếu được trong nhiều món ăn nổi tiếng ở Huế. Không chỉ "tô điểm" cho các món ăn dân dã, giờ đây bắp chuối đã góp mặt trong rất nhiều bữa tiệc Huế.

Cây chuối trong vườn quê là thứ cây đặc biệt quý. Toàn bộ cây đều hữu ích với con người, không bỏ đi thứ gì cả: Lá chuối gói nhiều thứ bánh; quả chuối chín dùng để thờ cúng ông bà, tiên tổ và bổ dưỡng cho người; thân chuối non thái ra làm rau sống, muối chua; thân chuối già làm thức ăn nuôi lợn; củ chuối thái ra muối chua hoặc xào nấu... còn bắp chuối góp mặt trong rất nhiều món ăn nổi tiếng của Huế. Bắp chuối là phần hoa chuối chưa trổ buồng, hoặc đã trổ buồng nhưng chưa trổ hết. Người ta cắt bắp chuối về, chế biến các món ăn và thái ra làm rau sống!

Ăn bánh khoái Thượng Tứ, đĩa rau sống phải gồm vả, chuối xanh, khế, xà lách, bắp chuối và rau mùi. Thiếu bắp chuối, sẽ thiếu đi vị ngọt, chát, mềm đặc trưng. Đĩa rau sống ăn với bún bò - giò heo, bún chả cá, cơm hến, rau sống ăn kẹp với thịt bê thui chấm mắm nêm, hay cá hấp, v.v... đều có sự góp mặt của bắp chuối. Bắp chuối đã trở thành một trong những món rau sống đặc trưng riêng có của Huế (cùng với vả). Người Huế vào quán ăn, liếc nhìn đĩa rau sống mới bưng ra, thấy thiếu "vị" bắp chuối là hỏi liền! Bắp chuối rất rẻ. Một cái bắp chuối chưa trổ buồng chỉ vài ngàn bạc, nhưng thái ra được cả mấy đĩa rau. Rẻ mà ngon, dân dã mà tinh tế là bản chất của ẩm thực Huế vậy!

Ngoài làm rau sống, người Huế còn chế biến hàng chục món mặn, món chay rất ngon từ bắp chuối, như nộm bắp chuối, bắp chuối kho, bắp chuối ram, cháo bắp chuối, bắp chuối muối chua, canh bắp chuối sứ, v.v... Bà Hoàng Thị Kim Cúc, giáo viên dạy nữ công - gia chánh của Trường Đồng Khánh xưa, nhân vật trong bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử, cách đây 60 năm (Quý Mùi, 1943), đã soạn cuốn sách "Nghệ thuật nấu món ăn Huế". Trong đó bà dạy cách chế biến rất nhiều món ăn từ bắp chuối. Thí dụ, nấu "canh bắp chuối sứ" phải lột bớt bẹ già bên ngoài, chẻ đôi bắp chuối ra, xắt mỏng (xắt vào nước liền cho khỏi đen), rửa lại vài lần cho sạch mủ, vớt ra để ráo nước. Tôm lột vỏ rồi chao với mỡ, tiêu, hành, ớt, nước mắm, muối và một tí nước. Khi tôm sôi thấm, đổ thêm nước lạnh vừa dùng và ít nước ruốc. Để sôi lại rồi đổ bắp chuối vào. Canh sôi là được. Hay món chay "bắp chuối ram": Bắp chuối sứ lột bẹ già, chẻ đôi theo chiều dọc, luộc mềm, ép ráo nước. Tách từng lá, rút tim trong mấy trái chuối non (cần làm nhẹ tay, để giữ cho các lá bắp chuối không rời ra) Tương, xì dầu, muối, tiêu, đường, bột ngọt, ngũ vị hương, trộn đều rồi đem xoa vào từng lá bắp chuối ướp cho thấm. Khi rán, lấy bột mì sú với nước lạnh hơi sền sệt, trộn thêm vào các thứ gia vị trên. Phết hồ bột mì lên lá bắp chuối rồi cho vào chảo dầu đang nóng ram vàng. Khi bắp chuối vàng đều, gắp ra đĩa, cắt từng miếng vuông nhỏ, rưới nước xì dầu, tương, đường, gừng lên trên, trộn đều là được. Bắp chuối ram (ăn nóng) là một trong những món của thực đơn tiệc chay Huế.

Ăn các món Huế ngon từ bắp chuối, ta mới giật mình: Thì ra cây chuối vườn đang nuôi ta cả về tâm hồn lẫn vật chất: Tình như một bức phong còn kín/Gió ở đâu gượng mở xem (Nguyễn Trãi). Từ cái đọt chuối non phong kín như bức thư tình ấy, mở ra một đời sống hết lòng vì niềm vui sống của con người.
Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

ẨM THỰC HUẾ

Mùa Đông và Cà Phê Huế

một góc bên ngoài cafe vĩ dạ xưa


Tháng 11, những cơn mưa kéo dài lê thê mang chút hơi sương lành lạnh làm cho Huế thật sự bước vào một mùa đông ẩm ướt. Lúc này bạn sẽ không còn nhìn thấy những quán cà phê vỉa hè nằm đâu đó trên các góc phố nhỏ của Huế vào buổi sáng khi thành phố còn ướt đẫm sương mai nữa mà dân ghiền cà phê đang bắt đầu lui vào một quán cà phê trong thành phố để thưởng thức hương vị đầu ngày lấy chút sảng khoái bước vào ngày mới.

Cà phê Huế- Nét độc đáo riêng

Uống cà phê là một cái thú không thể thiếu của người dân Huế (nhất là uống cà phê phin). Thật tuyệt khi vào mùa đông rét mướt bạn sẽ ngồi trong một quán cà phê nhỏ nhắn, xinh xắn và ấm cúng để thưởng thức nhạc trữ tình êm dịu trong không gian êm đềm xứ Huế. Giá cả cũng rất phù hợp với túi tiền của người dân Huế. Một ly cà phê đen giá 3.500 đồng, một ly cà phê sữa 4.000 đồng...Cà phê Huế đặc biệt thơm ngon, đậm đà hương vị nên thu hút được rất nhiều tầng lớp trong thời gian rảnh rỗi.

Đến với quán cà phê Sông Xanh ở đường Nguyễn Công Trứ, vào mùa hè khách có thể ngồi ở sân vườn. Hơi nước từ dòng sông Như Ý và hương gió mùa hè nhè nhẹ sẽ làm bạn cảm thấy rất dễ chịu. Vào mùa đông, khách có thể ngồi bên trong ngôi nhà được xây dựng theo kiểu Pháp rất sang trọng và kiên cố, cách bài trí cũng thật tinh tế. Ở góc sau của căn nhà, qua lớp kính cửa sổ mờ ảo bạn có thể nhìn xa xa bên kia sông là Đập Đá thấp thoáng bóng người qua lại trong màn mưa rơi rả rích.Ở đây vào buổi tối khách mới thật sự đông, dành cho những đôi tình nhân muốn được ngồi nói chuyện với nhau trong không gian yên tĩnh và ấm cúng.

cà phê Sông Xanh

Một quán cà phê cũng được giới sinh viên đã từng học ở Huế đều không thể quên (có lẽ vì giả cả phải chăng?) đó là cà phê số 6 ở đường Trần Thúc Nhẫn. Được thiết kế rất giản dị, nhẹ nhàng trong khuôn viên một ngôi nhà khá xinh xắn quét vôi trắng tinh nguyên. Bây giờ không còn đông khách như ngày xưa nữa nhưng những cô cậu sinh viên vẫn hay đến đây vào buổi tối, hay những giờ nghỉ giải lao sau một buổi học để bàn tán nhau chuyện học hành, chuyện thời sự "nóng hổi" trong ngày. Thỉnh thoảng có dịp gặp những người bạn đã từng là sinh viên ở Huế, họ thường hay hỏi tôi "Cà phê số 6 bây chừ ra răng?". Làm sao họ có thể quên được một góc quán nhỏ đã ghi dấu bao nhiêu kỷ niệm thời sinh viên.

Duyên dáng ẩn mình trong Thành Nội, cà phê "Nhạc Hoa Viên"- một bức tranh khá hoàn chỉnh cà phê vườn xứ Huế. Đến đây khách có thể tha hồ thưởng thức những bản nhạc nhẹ, nhạc trữ tình dưới không gian xanh mát của cây cối và tiếng chim hót thánh thót tạo nên một không gian thật bình yên. Mùa đông, có thể ngồi dưới những nhà chòi lợp mái tranh dựng quanh vườn. Từ đây, mọi người có thể ngắm những bức tượng thiếu nữ thổi sáo, đánh đàn được dựng ở những địa điểm không gian hợp lý mang đậm bản sắc Huế.

Cà phê số 6

Bây giờ mọi người đến Huế vẫn kháo nhau về một quán cà phê mới mở mang tên rất Huế "Vỹ Dạ Xưa". Một hệ thống nhà rường được lắp ghép rất tinh xảo và cổ kính tạo dựng trên một khuôn viên rộng hơn cả 2000m2. Đôi khi bất chợt muốn tìm lại một hình dáng của cung đình Huế xưa, hãy đến đây bạn sẽ thấy tái hiện lại một không gian của thơ ca, nhạc, họa...Bạn sẽ được thưởng thức nhạc Trịnh Công Sơn, nhạc tiền chiến...hòa với tiếng mưa tí tách trên mái ngói nâu non.

Rất nhiều quán được tạo dựng lên ở Huế, mỗi nơi có một đặc tính riêng của nó như: quán Misa (Nguyễn Huệ) chuyên trị nhạc tiền chiến và nhạc Pháp, Hạ Vy (Chu Văn An) chuyên trị nhạc Trịnh, Chiêu Ê nằm trên đường lên đồi Thiên An của họa sỹ Hoàng Đăng Nhuận với cách bài trí tinh tế và trang nhã qua đôi mắt của một họa sỹ nổi tiếng, Thiên Trúc lãng mạn nghiêng mình trên thượng thành nội, Hoàng Phương (Chi Lăng) soi bóng bên cạnh dòng sông Hương tĩnh lặng, Nam Nguyên (Trần Phú) chuyên về nhạc Rock....

Nhìn nét lãng mạn

cà phê nhạc Hoa Viên

Mùa đông về, Huế thật lạnh với những cơn mưa kéo dài hàng tuần và đôi khi cả hàng tháng. Không gì thú vị hơn khi những buổi sáng tinh sương hay cuối tuần trong tiết đông lạnh giá, cùng một đám bạn bè hay với một người tri kỷ ngồi trong quán cà phê đàm đạo, tâm sự với nhau để cảm thấy cuộc sống không có gì hạnh phúc bằng. Còn đối với những bạn sinh viên, vào những giờ giải lao cà phê là nơi trao đổi học hành, cập nhật tình hình thời sự trong và ngoài nước. Ban đêm cà phê là nơi lý tưởng để hò hẹn của các cặp tình nhân đang yêu nhau....Thật khó tìm đâu ra một nơi giải trí lý tưởng như vậy sau những giờ phút lao động căng thẳng.

Những ai ghiền cà phê và "ghiền"... cả lãng mạn không chỉ đơn thuần đi uống cà phê để thưởng thức vị đậm đà của nó mà còn ngắm nhìn không gian, kiến trúc hòa quyện với chút tâm hồn Huế. Ngoài trời mùa đông lạnh giá nhưng ta sẽ thấy lòng mình ấm hơn khi nhấm nháp hương vị đậm đà trong tiếng nhạc Trịnh đầy chất triết lý và chiêm nghiệm cuộc đời.
Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

ẨM THỰC HUẾ

Một chút tản mạn về ẩm thực xứ Huế

Từ xưa đến nay, người phụ nữ Huế, từ các bà mệnh phụ cho đến các người vợ trong các gia đình đã được hấp thụ một nền giáo dục truyền thống, có được các đức tính trung hậu, đảm đang, khéo tay hay làm, nấu ăn bằng tất cả sự khéo léo như gửi cả tâm hồn mình để làm bữa ăn hàng ngày cho chồng con hoặc để phục vụ trong lễ kỵ giỗ tổ tiên, hoặc để trổ tài nữ công gia chánh trong các dịp gia đình tiếp đãi khách khứa.
Các món ăn ở Huế được chia làm hai loại: Món ăn Cung đình và món ăn Dân gian. Các món ăn Cung đình như: Yến xào, nem công, gân nai nấu nước gà hầm, hải sâm nấu tôm hùm, bào ngư hầm ngũ vị, cửu khổng hầm... đến những món đặc sản nổi tiếng, nhất là cơm hến, bún bò, bánh khoái, bánh bèo, nậm lọc, bánh ướt thịt nước... Ngoài ra có hàng chục loại mắm và cũng ngần ấy loại muối. Về mắm có: mắm ruốc, mắm nêm, mắm tôm chua, mắm gạch cua, mắm cá ngừ, mắm cá nục, mắm cá cơm, mắm cá rò. Về muối có: muối sống, muối rang, muối hầm, muối ớt, muối tiêu, muối tiêu chanh, muối xả, muối đậu, muối dầu lá...

Bánh Bèo Huế

Thức ăn ở Huế rất rẻ, một tô cơm hến chỉ có 2.000 đồng, bún bò từ 3.000 đến 5.000 đồng, bánh bèo, bánh lọc, bánh ướt, một đĩa giá 3.000 đồng (6 cái), bánh khoái 2.000 đến 3.000 đồng một cái, bánh chưng 2.000 đồng một cặp...Du khách đến Huế có thể thưởng thức các món ăn dân dã ở những nơi như: Bún bò có quán bà Bê (đường Lý Thường Kiệt), bánh bèo, nậm, lọc có quán bà Đỏ ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, bánh khoái Thượng Tứ, bánh chưng có quán bà Thêm đường Nhật Lệ, cơm hến Vĩ Dạ, bánh canh Nam Phổ, mè xửng Thiên Hương, tôm chua cô Ry ở chợ Đông Ba... Ngoài việc thưởng thức ẩm thực theo đúng nghĩa, món ăn Huế còn chứa đựng nhiều vị thuốc trong y học cổ truyền của dân tộc, mùa nào thức nấy, giữ được sự cân bằng cho cơ thể con người.

Bánh chưng Nhật Lệ- Huế

Nhờ có truyền thống văn hóa lâu đời, nhờ nguyên liệu dồi dào của địa phương và nhờ bàn tay khéo léo của con người chế biến, các món ăn Huế chẳng những ngon miệng, đẹp mắt, giàu chất dinh dưỡng mà còn thể hiện một cách ứng xử của con người trong xã hội. Là một địa danh nổi tiếng về văn hóa ẩm thực nên cho dù Huế có hàng trăm món ăn thì mỗi món ăn Huế đều có phong vị riêng, gây ấn tượng cho nhiều du khách cả trong và ngoài nước. Bạn cứ đến vùng đất Cố đô là sẽ hiểu và thấy được những nét văn hoá đặc sắc này./.

Theo VOV News
Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!

ẨM THỰC HUẾ

ún bò Huế

Trần Kiêm Đoàn

Gánh bún vỉa hè

Bún không phải chỉ đơn thuần là một món ăn truyền thống của Huế, nhưng đối với người Huế, bún còn là một phần lối sống “Kiểu Huế”. Kiểu Huế là nghèo mà vẫn sang, vui rộn rã mà vẫn man mác buồn, ngoài mặt phẳng lặng mà trong lòng dậy sóng, không soi bóng mình trong gương mà soi bóng mình trong đôi mắt của người thương, bè bạn, xóm giềng. Người ngọai quốc như ông Foulon cũng nhận xét về sự mâu thuẫn của Huế: “Tóc tang cười nụ, vui mừng thở than!”(Lê Văn Lân dịch)

Huế mâu thuẫn từ buổi mới vào đời, đài các từ ngày mới có tên. Tên đất thì nhỏ như nốt ruồi son: Ô, Rí, Huế... mà tên người lại dài lướt thướt như mái tóc mây dài chấm gót: Công Tằng Tôn Nữ Thị Sông Hương, Nguyễn Khoa Hoàng Thành, Tôn Thất Quỳnh Phương... Huế quá trầm lặng và chật như cái bể cạn mà phải chứa những tâm hồn bão nổi sông hồ, nên dân Huế ngoài mặt hiền khô mà trong lòng cưu mang những bến bờ viễn xứ, sẵn sàng phản kháng và rực lửa đấu tranh “dấy loạn” như Lục Vân Tiên ra đường thấy việc bất bằng chẳng tha. Cái dấy loạn bão liệt nhưng nên thơ và lý tưởng quá đà của những tâm hồn lãng mạn kiểu Huế chỉ làm cho Huế thành đất dấy nghĩa nhưng không thể nuôi lớn Huế thành căn cứ địa, chiến khu như Tân Sở, Ba Lòng. Xưa vua Hàm Nghi và vua Duy Tân chỉ có những phút huy hoàng và chợt tắt ở Huế, để rồi suốt canh thâu le lói ở phương nào.

Tô bún bò Huế cũng là một biểu hiện của văn hóa Huế vì đây cũng là một sự “dấy nghĩa” trong truyền thống nấu ăn khi cho bò nổi heo chìm trong cùng một nồi, trộn lẫn hai tính chất mâu thuẩn “bò nấu thì teo, heo nấu thì nở” thành một thể hài hòa. Huế đã dùng sả để “chuyên trị” thịt bò chứ không dùng ngủ vị hương để chuyên trị như truyền thống lâu đời ở Trung Hoa và miền Bắc. Tô bún Huế mang hưong vị “rất Huế” để mà cảm nhận và thưởng thức như cảm nhận và thưởng thức mùi khói sóng buổi chiều trên sông Hương. Tự nhiên như: “Nó ngon thì tại nó ngon. Có chồng thì phải nuôi con, thờ chồng”. Cái dễ giận nhất của người Huế là "mình cảm thấy..." mà không cần lý luận. Bởi vậy, hình như càng đem lý tính để phân tích các món ăn Huế, cái hiểu về hương vị thực tế càng xoải cánh bay xa...

Bún Bò Huế. Ai ở xa nghe như thể Huế là vùng đất thổ sản của bò, giống miền Nam Mỹ Texas. Thật ra, tìm một trại bò trên đất Huế cũng khó như tìm lá Diêu Bông của Hoàng Cầm. Tô bún bò Huế cũng là phản ánh cái tham vọng thu nhỏ của người Huế vì muốn dùng cái “lượng” giới hạn để đạt tới cái “phẩm” vô cùng. Bởi vậy, ngoài những chất liệu cay chua ngọt bùi của trần gian, tô bún Huế còn được “nêm” thêm ít nhiều gia vị vô hình của cái tâm chủ quan và cái linh của hoàn cảnh

Bà Bún

Suốt cả thời thơ ấu, tôi sống ở làng, quanh năm chỉ có “Đây xóm nghèo quê tôi khi nắng lên...” là đẹp nhất.

Hàng năm, sau dịp Tết, người trong làng lại bắt đầu chuẩn bị lễ đầu năm. Mẹ tôi lễ vào ngày19 tháng giêng để kịp ngày 20 đi coi giò gà và dự lễ tế Bà Bún tại làng Vân Cù.

Mỗi năm, tôi được ăn bún khá nhiều lần nhưng hai lần trọng đại nhất và ngon nhất là trong dịp lễ đầu năm của mẹ tôi và trong ngày lễ tế Bà Bún tại Vân Cù.

Làm sao tôi quên được những buổi sáng hai mươi tháng giêng. Từ sáng tinh mơ còn lạnh cóng, mẹ tôi đã cẩn trọng nhúng bộ giò gà khô queo trong tô rượu trắng, gói trong giấy bổi, lâm râm cầu nguyện rồi chuẩn bị lên đường bói quẻ đầu năm. Tôi là con trai út, nên được thương nhất nhà và thường bị gọi là “cái đuôi của mạ” vì mẹ tôi đi đâu tôi cũng lon ton dòi chạy theo.

Món bún Huế.

Sau vụ coi giò gà tại nhà thầy Kiên ở Hương Cần thì mặt trời đã lên quá đọt tre. Mẹ tôi tiếp tục cuộc hành hương cuốc bộ đầu năm về làng Vân Cù. Từ Hương Cần về Vân Cù phải qua một cánh đồng lúa rộng, tôi phải chạy lúp xúp theo mẹ mướt mồ hôi, mặc dầu trời tháng giêng trên quê tôi lạnh đến nỗi “giêng hai cắn tay không ra máu!”. Sau nầy tôi bỗng khám phá ra thêm một bí mật về cái ngọn tuyệt vời của bún xáo Vân Cù trong ngày lễ Bà Bún một phần cũng là do cánh đồng trống nầy vì vượt qua cho được dặm trường thiên lý nầy thì cái bụng đã trống trơn.

Muốn nói đến Bún Bò Huế thì đừng quên trước hết phải nói đến con bún, vì tô bún là một tổng hợp hài hòa giữa con bún và nước bún. Thiếu một trong hai là kể như có Adam mà không có Eva, có Phạm Lãi mà thiếu Tây Thi! Và, nói đến con bún Huế thì không thể không nhắc đến chiếc nôi của bún là làng Vân Cù. Làng Vân Cù nằm cạnh sông Bồ, là con sông ăn thông với sông Hương qua nhánh sông Đào. Vân Cù cách Huế chừng 10 cây số về phía Tây Bắc. Từ xưa, Vân Cù là lò bún tập thể cung cấp bún cho cả Huế, Thừa Thiên, ra tới Quảng Trị và có khi vào đến Quảng Nam, Đà Nẵng. Hầu hết người làng Vân Cù tuy sống về nghề nông nhưng ai cũng có lò bún trong nhà.

Cũng như rất nhiều nghề thủ công khác ở Huế như nghề Thợ Rèn ở Làng Hiền Lương, nghề Đan Thúng Mủng ở làng Bồ La, nghề Thợ Vàng ở làng Kế Môn, nghề Nuôi Tằm ở làng Dương Sơn, nghề Chằm Nón ở làng Hương Cần, nghề Đan Nôi Bội ở làng Liễu Hạ, nghề Gạch Ngói ở làng Nam Thanh... nghề Làm Bún ở làng Vân Cù là một công việc làm ăn truyền thống và độc đáo riêng của từng đơn vị sản xuất gia đình trong làng, có tính cách cha truyền con nối từ đời nầy qua đời khác. Tất cả dây chuyền sản xuất đều làm bằng tay với những dụng cụ thô sơ, nhưng thành phẩm thường đạt đến mức tinh luyện mà người khác làng khó lòng bắt chước nổi.

Bún bò Gia Hội

Thủy tổ của nghề làm bún tại Vân Cù là một bà, tục gọi là Bà Bún. Thời gian đã xoá nhòa danh sách của những người muôn năm cũ nên chẳng còn ai nhớ tên thật của Bà Bún. Trong những câu chuyện dân gian truyền miệng về cuộc đời của Bà Bún, tôi còn nhớ mãi chuyện kể của bác Cửu Am với mẹ tôi rằng:

Vào một thời xa lắc xa lơ, khi có những người Đàng Ngoài theo chân chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp, có một nhóm người đến định cư trong vùng những Tháp Chàm cổ xưa đã đổ nát nên sau nầy có tên là làng Cổ Tháp, thuộc huyên Hương Điền. Trong số đó có một người thiếu nữ đẹp, có lẽ cũng mắt lá răm, môi cắn chỉ, má lúm đồng tiền... nên rất được nhiều người mến chuộng. Trong lúc mọi người chuyên sống bằng nghề canh tác làm ruộng thì người thiếu nữ nầy miệt mài chuyên nghề làm bún. Bún nàng ngon quá hay vì nàng xinh quá mà làm cho bao người ăn quên cả đường về. Rượu không say bún say mới ngại... Vì vậy nên nhiều người ganh tỵ. Rồi một dạo dân trong vùng bị mất mùa liên tiếp 3 năm. Người ta cúng, tế cầu thần linh cứu giúp. Gặp cơ hội nầy, kẻ xấu bụng tung tin rằng, mất mùa là do thần linh quở phạt vì Cô Bún đã đem gạo là “hạt ngọc của Trời, phơi mao ngậm sữa” ra mà ngâm, mà chà, mà xát, mà nghiến nát ra để làm bún. Thế là nhà nông bắt đầu nổi giận. Hội Đồng Thị Tộc của làng họp bàn và ra lệnh cho Cô Bún phải bỏ nghề làm bún hay sẽ bị trục xuất ra khỏi làng, nhưng Cô Bún quyết sống chết với nghề nên chấp nhận ra đi.

Vì bản chất hiền lương và thuần hậu nên Cô Bún được làng ban ân cho phép chọn lựa hướng đi và cử năm người thanh niên mạnh nhất trong làng theo áp tải. Mỗi thanh niên sẽ cõng cái cối đá làm bún của Cô đi một chặng đuờng cho đến khi mệt đuối sức thì người khác tới thay cho đến hết người thứ năm là vùng đất mới của Cô Bún. Cứ thế, đoàn người đi về hướng Đông cặp theo sông Bồ không nghỉ. Nơi người trai làng thứ năm khuỵu xuống với cái cối đá trên vai là làng Vân Cù sau nầy. Nơi đây đã trở thành “đất lành chim đậu” cho Bà Bún lập nghiệp và truyền nghề làm bún đời đời qua bao nhiêu biến cố thăng trầm của đất nước và dân tộc.

Người ta thường ví von “mềm như bún” nhưng cái mềm Đông Phương lại là cái dẻo dai bền bỉ để sống còn trên bước đường vạn dặm. Thân gái dặm trường, Bà Bún đã vượt Hoành Sơn vào Huế. Chim đã về núi, Bà đã về dất nhưng Bún Huế vẫn còn tươi rói với nhân gian như có người đã hát nửa chơi, nửa thiệt: “Hoành sơn nhất đái chim về cội. Vạn đại dung thân đọi bún bò”.

Một “xưởng bún” điển hình ở làng Vân Cù thường bao gồm một cái xay để xay bột, một cái cối có chày đạp, lò nấu , chảo lớn, rây bột, khuôn bún và một số dụng cụ để khuấy, vớt, đong, đựng bột và bún trong từng chặng đường sản xuất.

Bún bò bà Phụng

Từ hột gạo măng tơ biến ra con bún nõn nà cũng phải cần đến bàn tay, không phép mầu nhưng cũng phải khéo léo và cần cù, của bà tiên lao động. Sợi bún bắt đầu từ hột gạo. Gạo trắng ngâm nước lạnh qua đêm sẽ “mục” ra và được đem xay hay giã nhuyễn thành bột. Tiếp theo, bột gạo được “rây” để lọc ra phần mịn nhất tinh bột của gạo. Bột gạo nguyên chất được rưới nước sôi để nhồi thành một khối bột gọi là “trái bột”. Trái bột gạo được luộc chín sơ, rồi vớt ra và đem trộn với bột lọc theo tỷ lệ cứ 30 lon gạo (khoảng 10 ki-lô), trộn với 2 ki-lô bột lọc. Tổng hợp bột gạo và bột lọc nầy lại được giã, trộn rất nhuyễn cho tới khi trái bột đạt tới mức “vừa đai, vừa đẻo” là đuợc. Giai đoạn cuối cùng là khối bột mượt mà và dẻo quẹo được đưa vào khuôn bún. Dưới sức ép, những đường bột tuôn ra theo lỗ đục sẵn dưới đáy khuôn bún, rơi vào nồi nước sôi và chín thành bún. Bún được vớt ra, xả sạch với nước lạnh và sẵn sàng để ăn.

Bún tự nó đã là một món ăn thanh đạm của người Huế, nhất là vùng quê. Bún Vân Cù được làm ra dưới ba hình thức: Bún con, bún lá và bún mớ.

Bún con hay bún vắt là một lọn bún quấn lại với nhau, dài vừa nắm tay như cuộn chỉ thêu, rất tiện lợi cho việc ăn uống đơn giản và đạm bạc trên nương, ngoài đồng, giữa đường. Chỉ cần một chút nước mắm ớt và năm, bảy con bún vắt thì bác nông phu trên đường về, chị chủ quán rộn ràng giữa chợ, em bán hàng rong lang thang... có thể tay cầm con bún chấm vào nước mắm ăn ngon lành ngay trên “hiện trường” vừa ngon miệng, vừa ấm lòng, vừa khỏi lơ là công việc.

Bún lá là một lớp bún trải trên lá chuối tươi, cuộn tròn cỡ bằng cái bánh tráng trung bình. Bún trắng nổi trên lá xanh mang vẻ đẹp trinh nguyên nên vừa bắt mắt, vừa bắt miệng. Bún lá thường là đơn vị bún cho cá nhân và gia đình: Mỗi người một rá, mỗi lá một tô.

Bún mớ, còn gọi là bún “ngảo” hay bún kí-lô. “Ngảo” là cái rổ nhỏ thường dùng như một đơn vị đo lường ở các vùng quê của Huế trong khi “kí lô” là đơn vị đo lường mới xuất hiện sau này. Bún mớ là bún sản xuất đại trà với số lượng lớn để buôn bán, đổi chác trên thị trường.

Thật ra cả ba loại bún cơ bản là giống nhau, đều có màu ngà đục khi sống và màu trắng trong khi đã luộc chín. Người ta thường dùng danh từ “bún tươi” để chỉ bún mang trực tiếp ra từ lò và “bún luộc” để chỉ con bún được luộc chín từ bún khô. Con bún Huế điển hình có độ dai vừa phải, không “đai hoai” như bột lọc nhưng cũng không bở rệt như bột gạo. Thường người ta dùng đinh 3 phân ( khoảng 1/8 inch) để đục lỗ thoát trong khuôn bún hay để ước lượng độ lớn của con bún. Trong thực tế, bún lớn hay nhỏ là do bàn tay khéo léo của người cầm “rây”. Muốn sợi bún nhỏ, ngay khi những con bún sống đang chảy xuống nồi nước sôi để thành bún chín, chỉ cần đưa cái khuôn đầy bột lên cao; muốn có con bún to thì hạ khuôn xuống thấp. Bún nhỏ là bún kim để làm bún khô hay bún Tàu dùng nấu canh và bún to hơn là bún thô dùng để xào trộn thức ăn trong những dịp giỗ, Tết. Bún con và bún lá thường được cho là ngon hơn có lẽ vì được sản xuất đầu nước nên láng lẩy và tươi tắn hơn: “Bún đầu nước thì ngon, con đầu nước thì dại (?)”.

Ngoài cơm và khoai sắn, có thể nói rằng, bún nói chung là món ăn truyền thống được phổ biến rộng rãi nhất đối với người Việt Nam ở trong nước cũng như khắp năm châu. Các loại bún truyền thống miền Bắc thì có bún riêu, bún thang, bún mộc, bún ốc... Bún từ Đàng Ngoài đã theo bước chân Nam tiến đi vào Đàng Trong, rồi chọn đất Thuận Hóa làm nơi nghỉ bước và đâm chồi nẩy lộc thành bún Huế. Bún Huế gồm nhiều loại, mỗi loại có một lịch sử và tính chất độc đáo khác nhau: Bún nước mắm, bún mắm nêm, bún giấm nuốc, bún riêu, bún xáo, bún măng, bún thịt nướng, bún chả tôm, bún bò, bún giò... và bún bò giò heo. Bún bò Huế, tức là bún bò giò heo được ưa chuộng và phổ biến nhất.

Theo thời gian và không gian, bún bò Huế có lúc và có nơi chỉ còn là một cái tên nhưng phẩm chất, đặc tính, mùi vị... đã hoàn toàn biến đổi. Nhiều người vẫn tẩn mẩn tự hỏi, không biết tô bún bò Huế thời vua Gia Long lên ngôi năm 1802 và tô bún thời vua Bảo Đại thoái trào năm 1954 có gì khác nhau trong cung đình và ngoài phố chợ. Có điều rõ ràng là khách ăn bún Huế sẽ cảm thấy tô bún An Hoà khác hẳn tô bún An Cựu, nơi nầy có thêm lát chả, nơi kia có thêm miếng huyết, nơi nọ có chút rau thơm và chuối cây xắt mỏng lơ thơ. Càng đi xa, tô bún ở Đà Nẵng không giống tô bún Sài Gòn; tô bún Huế Ca-li khác xa tô bún Huế Texas.

Trước 1975, tôi có một người ông bà con, quê ở làng Lương Quán, Nguyệt Biều. Mọi người kêu ông là “Ôn Tứ”, có lẽ vì ông làm quan tứ phẩm của triều đình. Cứ một năm vài ba lần, ông sai tôi chở qua cung An Định để vấn an “Đức Từ”, đó là bà Từ Cung, thân mẫu của cựu hoàng Bảo Đại. “Ôn Tứ” tuổi trên 70 mà vẫn còn đẹp lão như một tiên ông với da dẻ hồng hào và tóc trắng như mây, nhưng hễ cứ mỗi lần tôi khen ông là ông lại nói với giọng nửa như tự hào, nửa như ân năn:

- Ôn sống thọ đây là tại trời đày vì tội phạm thượng, dám ăn đồ ăn của vua!

Ai cũng biết thuở trước, ông là người hầu cận thân tín của vua Bảo Đại từ Việt Nam qua đến Pháp. Tôi nghe lạ, hỏi ông, ông giải thích:

- Ngài Ngự làm vua, nhưng là người Tây học. Ngài xử sự công bằng và lịch sự với tất cả mọi người. Hồi còn ở trong Đại Nội, thường có các cận thần hay hoàng thân quốc thích nấu đủ món sơn hào hải vị dâng lên Ngài ăn khuya. Ngài nhận, nhưng sau đó sợ bị mập nên Ngài cứ đưa hết cho ôn ăn. Con coi, ôn ăn hoài cao lương mỹ vị của hoàng đế, “tội to” như rứa mà Trời không phạt răng được!

Trong những lần ngồi đợi ông vấn an đức Từ Cung, trong cái mát lạnh thâm u của cung An Định, tôi có dịp nghe các cuộc mạn đàm của giới thân cận cung đình về các món ăn Huế mà giới quý tộc quan tâm. Bún bò Huế vẫn thường được nhắc đến nhiều nhất. Đặc biệt là cuộc thi nấu các thức ăn đem ra đấu xảo tại chợ Tết Gia Lạc có từ thời Minh Mạng, do Định Viễn Công Nguyễn Phước Bình, con thứ tư của vua Gia Long lập ra. Chợ Gia Lạc nằm giữa chợ Mai và chợ Nam Phổ ngày nay và cũng là vùng đất có Tùng Thiện Vương và Tuy LýVương, hai vị hoàng thân nghệ sĩ đã vang bóng một thời. Lúc đầu chợ chỉ mở ra cho các người trong thân nhân phủ đệ, sau thấy đông vui hấp dẫn, dân thường trong vùng lân cận như Dương Nổ, Nam Phổ, Thế Lại, Ngọc Anh... tìm đến và cũng được các ông hoàng bà chúa cho vào tham gia buôn bán và tổ chức các trò chơi. Hàng năm đến ngày 23 tháng Chạp, chợ Mai đông buổi sáng và chợ Nam Phổ đông buổi chiều để nhường chỗ cho chợ Gia Lạc tưng bừng vui hội Tết. Đông vui và nhộn nhịp nhất là trong ba ngày mồng một, mồng hai và mồng ba Tết Nguyên Đán. Đây là phiên chợ của hàng con vua cháu chúa, nhưng đồng thời cũng mở rộng ra cho bàng dân thiên hạ đến vui Xuân. Theo tương truyền, trong một năm, món bún bò giò heo của Mệ Lựu đã chiếm giải nhất và được phê là “Thập toàn. Ngũ đắc”. Thập toàn là mười diều hoàn thiện của một món ăn ngon, đại khái như: ngọt ngào, thơm tho, đậm đà, bổ dưỡng, tinh khiết, bắt mắt, khéo chọn, khéo tay, khéo nấu, khéo bày, bún bò Huế còn được đánh giá cao là vì tính chất bình dân và phổ thông trong bá tính: Mọi người ai cũng biết được, ai cũng ăn được, ai cũng nấu được, ai cũng tìm được vật liệu ngay tại địa phương, ai cũng có thể có dịp mua được (ngũ đắc). Phải chăng vì bún bò giò heo cũng mang tính truyền thống dân gian như bánh chưng, bánh dày thuở trước.

Nếu gặp một người Huế nào đó ở vào lứa tuổi trung niên hoặc già hơn mà hỏi thăm thế nào mới thật là bún bò Huế và bún bò nơi mô ở Huế là ngon nhất, chắc chắn sẽ có hơn chín mươi phần trăm trả lời là, "bún bò Mụ Rớt".

“Bún bò Mụ Rớt có nêm sâm nhung quế phụ vô hay răng mà ngon dữ rứa?”. Một lần nào đó đã có người tò mò lên tiếng. Rồi cũng có người đáp lại, “Có chi mô, mụ Rớt cũng ra chợ Đông Ba mua rau, mua thịt như mình nhưng mụ nấu ngon vì có hoa tay”. Hoa tay? Hoa tay của ông đồ Vũ Đình Liên là để thảo những nét chữ như rồng bay, phượng múa, nhưng hoa tay của mụ Rớt là để nấu những tô bún bò thanh nhã, ngọt ngào “ăn ngậm mà nghe”.

Chừ ri hỉ...!

Cứ tưởng tượng mình đang ở Huế.

Vừa thức dậy sau giấc ngủ trưa, một buổi trưa không biết ở thời nào, một buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao, có cu gáy và bướm vàng nữa chứ... Và, có tiếng ve đất cuối mùa kêu sau vườn nhưng nghe như xa lắc. Nắng xế cuối mùa của Huế thường phai như màu tóc muối tiêu. Rồi có tiếng xe đạp của ai đó phanh lại trước sân, ba bốn đứa bạn thân rủ nhau đi ăn bún. Con đường Chi Lăng dẫn về Gia Hội chen giữa hai hàng phố cũ với những căn nhà xưa kiểu Tàu pha một căn hai chái, cột mệ cột con đề huề trông thâm nghiêm nhưng thấp bé một cách tội tình. Trước khi rẽ qua đuờng Ngự Viên đi ngang "mả ông trạng" sau lưng chùa Diệu Đế, hãy ghé lại một căn nhà dãy phố bên phải: Đó là tiệm bún bò Mụ Rớt. Huế làm ăn theo lối "hữu xạ tự nhiên hương", không bảng hiệu, không quảng cáo mà chỉ cần nghe tiếng tìm vào.

Khách vô tiệm tự nhiên và lặng lẽ như ghé lại bến đò. Cứ tìm bàn nào trống, ngồi xuống trên chiếc ghế đẩu không có chỗ dựa lưng, ngó một loáng bâng quơ người quen và người lạ, sẽ có người hỏi:

- Mấy o, mấy cậu thời bún chi?

Khách chỉ có lựa chọn giữa bún khô và bún nước:

- Dạ, cho mấy tô bún nước

Lát sau, mấy tô bún bò giò heo bốc khói, mùi thơm tỏa ra dìu dịu, được bưng ra đặt trên bàn. Bún được nấu nướng từ sau bức tường của dãy nhà ngang trông vào có vẻ phòng the hơn là bếp núc.

Tô bún bò Huế mới thoạt nhìn, có vẻ đạm bạc và thanh lịch như chiếc áo dài phin trắng nõn nà. Tô bún chỉ lớn hơn bàn tay búp măng xoè ra một tí. Nước bún trong để lộ những tép bún trắng nằm sóng soãi vươn lên miệng tô. Nước bún không mỡ màng, không bị vẩn đục vì gia vị. Vài loáng ớt màu đỏ nhạt, quyện với dầu sả nổi đốm sao trên mặt tô không che được miếng giò heo búp, mỏng bằng hai phần lóng tay. Miếng giò heo trắng ngả màu vàng với lớp da mỏng, ôm khoanh thịt nạc và mảnh xương tròn ở giữa như nhụy hoa nằm bắt mắt và mời gọi, nửa chìm nửa hở trong tô bún. Che mái cho tô bún là ba bốn lát thịt bò bắp xắt mỏng, những lát bò bắp với thớ thịt chắc nịch nâu đỏ và những đường vân vàng nhạt của nạm, gầu, gân, sách.

Trên bàn đã có sẵn đũa tre, muỗng sành, nước mắm, ớt tương và rau hành chanh múi. Một dĩa nhỏ hành củ trắng phau và hành lá, rau thơm xanh mưót điểm thêm ngò ta xắt mỏng để rắc lên mặt tô bún cho thêm nồng nàn hương vị. Rau hành của bún không phải là rau sống cuả phở, rau chỉ đóng vai trò “nước hoa” cho tô bún. Trên một góc dĩa là ớt tươi xắt lát. Cái cay của ướt tươi là đậm đà, mọng nước, đủ sức khống chế những cao thủ ớt đã nếm đủ vị giang hồ mà vẫn còn thấy nhạt. Cạnh đó là dĩa ớt tương nhỏ xíu màu huyết dụ; ớt tương của bún bò Mụ Rớt cũng được liệt vào hàng "gia vị bún bò bắc đẩu", nhìn thì có cái vẻ mềm như nhung với màu đỏ sẫm, điểm những hột ớt vàng hoe nhưng nếm vào mới biết thế nào là cái “hiền” của Huế. Gắp một tí ớt tương đầu múi đũa bỏ vào tô là ớt từ từ bung ra như nhụy hoa trên mặt nước bún. Hoa hồng thường có gai, nên nhụy hoa bún cũng làm cho biết bao người cay giọt ngắn, giọt dài!

Cung cách nêm tô bún trước khi ăn cũng thể hiện phần nào phong thái của người ăn. Vẻ e dè chờ đợi của khách mới, dáng khoan thai của giới nhàn du, sự xông xáo của người đói bụng, cách lịch lãm của kẻ từng quen... là những biểu hiện thường tình trước tô bún.

Khi đã nêm xong, húp một muỗng nước bún khai vị để cảm nhận được cái chất ngọt thanh pha đủ mùi gia vị. Mùi sả, mùi ruốc, mùi xương hầm, mùi thịt luộc, mùi chanh, mùi rau, mùi tiêu hành nước mắm... đã biến chất, đã quyện vào nhau tạo thành mùi bún bò có sức hấp dẫn lạ lùng riêng của nó. Miếng giò heo thanh nhã trong tô bún với lớp da mỏng có bìa da úp quanh miếng thịt nạc như đài hoa chưa nở nên thường gọi là giò “búp”. Cắn miếng giò, những sợi thịt trắng vừa béo, vừa ngọt vẫn còn thơm mùi thịt tươi mới chín nhẹ nhàng bốc hơi trên hai cánh mũi. Gắp lát thịt bò bắp. Lát thịt bò mỏng với những đường gân, sứa thịt và viền mỡ dòn tan giữa hai kẻ răng và vị ngọt béo miên man trên đầu lưỡi. Tô bún bò Huế vơi dần nửa như thách thức, nửa như mời gọi khách rằng, chưa cạn hết tô chưa gác đũa.

Tô bún bò Mụ Rớt được xem là đặc trưng cho tô bún Huế là vì nó mang những nét thanh đạm và đơn giản. Có thể nói cái thanh của bún Huế ví như những nét đan thanh của tà áo trắng, tà áo dài mỏng manh cửa đóng then gài ngỡ như là tử cấm thành của phái đẹp thần kinh, nhưng lại kín đáo phô bày trọn vẹn những nét đẹp trên thân thể của người mặc. Người mặc áo Kimono của Nhật chỉ cần một khuôn mặt đẹp, nhưng người mặc áo dài Việt Nam khó mà che dấu được những nét mỹ miều hay thô thiển của thân hình. Cũng tương tự như vậy, một tay nấu bún “hạng lông” có thể nấu một tô bún thập cẩm với tấp nập thịt thà rau cải rềnh rang như chiếc áo Kimono, nhưng lại khó có thể nấu một tô “bún-bò-áo-trắng” kiểu Huế thoạt nhìn tưởng như là quá đơn giản mà ẩn dấu lắm công phu.

Linh hồn của tô bún bò Huế là nước bún. Nước bún là nước được hầm từ xương heo, xương bò, gà tươi, và có khi là cây, củ... Phần khó nhất trong việc nấu nước bún là giữ cho nước trong, ngọt thanh, không mỡ màng, không lềnh bềnh gia vị. Những “trường phái” bún bò khác nhau ở Huế thường dấu bí quyết nấu nước bún vừa trong vừa ngọt, nhưng tất cả đều có điểm cơ bản khá giống nhau là cách chọn xương hầm, cách luộc tái rồi đổ nước đầu tiên, cách vớt và lọai bỏ bọt thải đúng lúc, đúng điệu, thường là yếu tố quyết định trình độ cao thấp của “tay nghề”.

Bún sợi thật sự là bún tươi, trắng ngà, có độ dẻo và độ lớn vừa phải.

Thịt heo trong tô bún chỉ đơn giản một lát giò có đủ da, đủ nạc và xương. Giò luộc vừa chín, không quá lửa làm cong queo, mềm nhũn, thoang thoảng gia vị vừa ăn; thơm nhưng không mất mùi thịt heo nguyên thủy.

Thịt bò trong tô bún là bò bắp luộc vừa chín, xắt lát mỏng, xào nhẹ lại với đồ màu và tránh tình trạng quá lửa làm “bò teo, heo nở”.

Gia vị chủ lực của bún bò Huế là sả, ruốc và ớt, nước mắm. Tinh dầu của cây sả có mùi thơm rất nồng, đủ mạnh để làm trung hòa mùi ruốc và giúp cho mùi thịt trộn tiêu hành nước mắm trở nên dịu và ngào ngạt hơn. Dầu sả nhẹ hơn dầu mỡ nên làm cho nước bún nổi sao óng ánh, tránh được những váng mỡ nặng nề làm cho người ăn ái ngại. Một cây sả tươi cần chọn đoạn giữa vừa thơm, vừa phong phú tinh dầu. Đừng quên sả gốc nồng và chát, sả ngọn ít thơm và dễ làm cho nước bún nhiễm màu xanh của lá.

Trong nồi bún, nếu sả quyết định cho hương thì ruốc quyết định cho vị. Ruốc phải đánh loãng và thải hết chất bã. Ruốc nêm lúc nước còn lạnh để khỏi nặng mùi. Ruốc nêm đúng phân lượng sẽ làm cho nước bún có vị ngọt đậm đà và mùi thơm phảng phất chất mắm muối quen thuộc của đồ ăn Việt Nam. Ruốc nêm thiếu, nước bún sẽ “ỏn”, nghĩa là lạt lẽo, kém vị, thiếu mùi như nước ốc. Ruốc nêm thừa, nước bún sẽ “hăng”, nghĩa là mùi vị nặng nề, không tỏa ngát quanh tô bún mà có vẻ như chìm lỉm trong nồi nước bún.

Bên cạnh kỹ thuật và kinh nghiệm của người nấu, chất liệu cũng đóng một vai trò quan trọng cho hương vị của tô bún Huế. Chẳng hạn như thịt heo nấu bún Huế thường lấy từ thịt heo cỏ. Đó là giống heo nhỏ nuôi bằng rau, chuối nấu với cám gạo cốt để vừa lấy phân, vừa lấy thịt. Heo càng lớn càng dài ra và thịt rắn lại chứ không phát triển “sồ sề” như giống heo mẹo nuôi trong kỹ nghệ lấy thịt sau nầy. Giò heo do đó vừa chắc, vừa thơm, vừa ít mỡ. Giò heo lý tưởng cho tô bún là giò sau: “Nấu giò sau, cho nhau giò trước”.

Ngoài ra, rau hành, gia vị... thường được các bà Huế nêm theo kiểu “luyện công” nên mọi thứ đều được tính toán chi li vừa đủ phân lượng cần thiết. Có dịp nhìn một bà Mỹ vào bếp với dáng kích động như muốn nhảy “Disco” với soong chảo, một bà Nam nếm đồ ăn trên lò, miệng chưa tắt nụ cười vui sau câu cải lương mùi mẫn... mới thấy được hình ảnh tay cầm đũa, mắt đăm đăm, môi chút chíp nêm đi nếm lại như đang “truyền tâm ấn” của một bà Huế trước nồi bún đang sôi là “thục nữ thần kinh”. Chính yếu tố địa phương, hoàn cảnh và tâm lý đã làm cho tô bún bò Huế trở thành ngon và độc đáo hơn vì nó được chuẩn bị, phục vụ và thưởng thức trong mức độ vừa đủ về lượng cũng như về phẩm.

Sự dễ dãi về hoàn cảnh sinh hoạt và phong phú về điều kiện vật chất có vẻ như có một tác dụng nghịch chiều cho tiến trình tạo nên cái vẻ thanh nhã truyền thống của tô bún bò Huế. Bún bò Huế càng tiến về Nam càng được thêm thắt như tà áo trắng biến thành áo gấm với phượng vẽ rồng thêu. Bún Huế chỉ cần vượt đèo Hải Vân vào Đà Nẵng là đã đổi khác: Tô lớn hơn, mỡ màng và thịt, gân, rau hành nhiều hơn. Bún Huế tiến vào Sài Gòn thành tô “phở bún” xe lửa tàu bay với nước béo, rau sống, giá sống, thịt chả ê hề. Chính bún bò Mụ Rớt Huế vào Nam cũng đã chuyển mình thành “bún bò Mụ Rớt Nam Bộ”. Bún bò Huế càng được chiếu cố rộng rãi chừng nào, sự “sáng tạo” và biến thể càng nẩy mầm trăm hoa dua nở chừng đó. Đến nỗi, một người thích “khảo” về các món ăn miền Trung gần đây như ông Đinh Miên đã phải lên tiếng “xóa óa” khi nhắc về bún bò Huế tại Mỹ trong bài “Cơm Việt, Quê Người”: “Đi đâu cũng nghe bún bò Huế chính gốc mà không biết gốc gì, nên gốc gì cũng đặng!” (Việt IX - 95). Ông Đinh Miên thuộc về trường phái “chịu chơi” khi luận về bún Huế. Ông cởi mở đón nhận sự chuyển mình của tô bún với vẻ cười cợt hồn nhiên như người đã biết là không thể tắm hai lần trên cùng một giòng sông. Cũng có người muốn “ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng” lên tiếng cho rằng, tại sao những món ăn truyền thống của thế giới như Pizza của Ý, Kabob của Ba Tư, Taco của Mễ, Kentucky Chicken Fried của Mỹ, Mì Triều Châu của Tàu... đi đâu cũng nghe cùng một hương vị, mà Bún Bò Huế lại có người nấu Sở kẻ nêm Tần như vậy, sợ một ngày kia “mất giống” tìm đâu!? Có lẽ không ai trả lời được câu hỏi đó vì món ăn là một phần của văn hóa mà gốc của văn hóa là con người. Khi đất nước và con người còn đó thì ngại gì tô bún đổi thay.

Những huyền thoại quanh tô Bún Bò Huế

Tuổi già của Huế thích lui về sống ẩn dật với quê hương, gần gũi với bà con làng xóm và mồ mã tổ tiên, nhưng tuổi trẻ lại thích bay xa tới những phương trời mơ ước. Niềm ước mơ của một đứa trẻ lớn lên sau lũy tre làng như tôi là làm sao được lên Huế học. Thành phố Huế cách làng tôi chưa đầy một giờ đi xe đạp nhưng đối với tôi thời nhỏ nó vừa thực vừa mộng như một vùng đất hứa. Có những buổi chiều đứng đầu ngõ nhìn những người lên Huế sắm hàng với các món đồ gói trong giấy, trong hộp đầy màu sắc gọi là “đi Dinh mới về”, tôi ước chi mình sẽ được lên Dinh

Tuy không có quy định thành văn nhưng con đường duy nhất để được lên Dinh ăn học đối với tuổi trẻ ở làng như tôi là phải thi đậu “Càng Cua” (concours) trước đã, đó là kỳ thi tuyển học sinh vào lớp đệ thất trường công mà trong toàn tỉnh Thừa Thiên chỉ có thành phố Huế mới có. Mẹ tôi thường nhắn gởi: “ Chuyến ni mà con thi đậu ỏcàng cuaõ, cực mấy mạ cũng gắng lo cho con lên Dinh học”.

Mẹ tôi dắt tôi lên Huế hai ngày trước khi thi “càng cua”, đi qua đi lại trước trường Hàm Nghi (ngày xưa là Quốc Tử Giám) nhiều lần cho quen đường đi nước bước. Tôi ở lại nhà chị Quyến tôi nơi đường Ô Hồ. Buổi sáng ngủ dậy, chị kêu gánh bún vào ăn điểm tâm. Gánh bún õng ẹo trên đôi vai o gánh bún, có khói và hơi bốc nhè nhẹ xung quanh như một đầu máy xe lửa xuống đèo. Nghe chị đặt hàng, tôi có cảm giác hơi là lạ:

- O múc cho tô “trung”, bún vừa, nước xắp xắp thôi. Cho giò nạc búp, thêm cái ngoéo. Đổi huyết lấy bò bắp xắt vô. Khoát bớt ớt màu, bỏ hành rau răm rươi rươi thôi, ớt tương nước mắm bỏ riêng...

Người bán bún chừng như đã quá quen thuộc với lối đặt hàng rắc rối đó nên làm thinh múc bún. Nồi bún nóng thân tròn, miệng uốn trông như chiếc lư đồng cổ không nắp không chân, đặt trên lò lửa riu riu đỏ. Tay o cầm cái vá cán dài, quây một vòng trong nồi bún với dáng tay nhẹ nhàng và điệu nghệ như cô vũ nữ Thái múa điệu cánh sen. Cái vá dừng ở đâu trong nồi nước bún là “bắt” được ngay miếng thịt, miếng giò đang cần, chính xác như ra-đa tìm thủy lôi.

Một lát sau o mới hỏi:

- Ai ăn rứa?

Chị tôi trả lời một cách hãnh diện:

- Thằng em tôi dưới làng lên ở lại thi “càng cua”.

Tự nhiên o bán bún coi bộ quan tâm:

- Nì, nói chuyện vô duyên chơ học trò đi thi không nên ăn giò búp: búp hoài không nở thì mần ăn chi nữa. Để tui múc cho một cặp giò ngoéo: ngoéo trước, ngoéo sau thì rớt đi mô được, thi đậu chắc nụi!

Chị tôi coi bộ cảm động ra mặt vì gặp được “Thầy”... bún, nên nhiệt liệt ủng hộ ngay:

- May có o nhắc chớ không thì khổ em tui rồi. Rứa! Múc ngoéo vô đi o!

Thật tôi không ngờ bún Huế “linh” như vậy, nên hôm đó ăn tô bún Huế mà cảm thấy trân trọng và ngất ngây như uống rượu thánh.

Bún bò Huế giờ cũng công nghiệp hoá (!)

Về làng, tôi thường ăn bún với nước mắm ớt. Mẹ tôi có mấy lu ruốc bự bành ky để ở nhà dưới, nước mắm nhĩ trong vắt nằm một lớp trên mặt. Đem lúa đổi lấy bún vắt hay bún lá, rồi múc nước mắm nhĩ từ trong lu ruốc, ra vườn hái ớt xé vào. Bún tươi chấm với nước mắm nhĩ pha thêm ớt trái mùa Xuân ăn ngon “nhức răng”. Thêm vào đó, một năm đôi ba lần được ăn bún với nước xáo lòng gà, thịt bò nên chú bé quê trong tôi cũng đã bằng lòng lắm với cuộc đời đầy đãi ngộ nầy rồi. Nay được ăn tô bún Huế với những thịt thà thơm phức, với cách nấu bún công phu, cách múc bún điệu nghệ... làm cho tôi cảm thấy được “lây” cái văn minh sang cả của người thành phố.

Ngày đi thi, tôi dậy sớm trước khi gà gáy lại, hồi hộp chờ trời sáng để tới trường thi, nhưng trong lòng cũng cảm thấy thinh thích khi nghĩ đến tô bún Huế với cặp giò ngoéo có lớp da mềm mềm bao quanh những thớ gân dòn tan như ăn ổi đỏ ở làng. Hình như mới có hai buổi sáng trôi qua mà tôi nghe như đã bị phố phường cám dỗ. Buổi sớm tôi nghe mẹ tôi bàn bạc to nhỏ với chị tôi, rồi tiếp theo đó có người gánh gánh xôi vào trước hiên. Nhìn dĩa xôi đậu xanh chấm muối mè bày ra trước mặt, tôi bắt đầu hoang mang. Mẹ tôi hối:

- Ráng ăn xôi đậu muối mè đi con!

Khi tôi ngao ngán ngáp dài kêu mệt quá và muốn ăn bún chứ xôi đậu, muối mè khô khan quá nuốt không vô, mẹ tôi dịu dàng an ủi:

- Con thi xong rồi, ưng ăn bún cả gánh mạ cũng cho. Con di thi “càng cua” mà ăn bún vô trơn, nói trời không nghe lỗ miệng, chớ nó truột di thì thi hỏng mất! Lúc trước mấy cậu con thi chi hỏng nấy là vì không nghe lời mệ ngoại, cứ dè ngày thi cử mà ăn bún không kiêng cử nên thi trợt tuốt luốt, phải xếp sách vở về quê đi cày. Chừ con gắng ăn xôi đậu, xôi muối mè dính mô chắc nấy, trời mới cho con đậu.

Tôi rướn cổ nuốt cho hết dĩa xôi mè vì thương mẹ hơn là sợ thi trượt. Tới ngày treo bảng, nghe loa đọc tên nhưng tôi không tin là mình đậu “càng cua” thứ nhì trường Hàm Nghi trong số hơn một nghìn thi sinh dự tuyển và có hai trăm trúng tuyển năm đó.

Suốt một đời, tôi không làm sao quên được hình ảnh mẹ tôi với hai hàng nước mắt sung sướng chảy dài trên đôi má phong trần vì lặn lội gieo neo nuôi con. Mẹ tôi nói như đã nắm được bí mật cuộc đời:

- Chộ chưa! Con nghe lời mạ, ăn xôi đậu nên mới thi đậu. Còn thằng Tý xóm Bàu, thằng Rô xóm Cụt, Thằng Lúi lò rèn to béo xắp hai con, nghe nói mỗi đứa ăn hai tô bún để đi thi nên trượt tuốt luốt.

Tôi muốn nói cho mẹ tôi biết bọn thằng Tý, thằng Rô, thằng Lúi... suốt cả mùa Xuân trốn học, thu sách vở trong bụi tre lá ngà đầu làng đi chơi; trong khi tôi học thuộc cháo sách Sử Ký của Trần Đinh, giải hết 1000 bài toán đố của Một Nhóm Giáo Viên, đọc nhuyễn 50 Bài Luận Mẫu và Tâm Hồn Cao Thượng của Hà Mai Anh... Thế nhưng nghỉ sao tôi lại thôi, vì mẹ cũng có một khung trời riêng của mẹ mà tôi chỉ dám núp sau áo mẹ để lặng im chiêm ngưỡng chứ không dám thả cánh chim lý luận làm huyên náo khung trời đó và làm mẹ buồn lòng.

Từ đó về sau nầy, tôi thường cố “cữ” ăn bún mỗi lần có thi cử. Ngay cả hơn 30 năm sau, khi tóc đã điểm bạc trên bước đường lưu lạc ở quê người, có những lần đi thi chuyên môn, đi phỏng vấn việc làm, đi thi tốt nghiệp trong trường đại học Mỹ, tôi vẫn “kiêng” ăn bún nhưng chỉ tìm cách né tránh âm thầm chứ không dám nói ra vì sợ bị chọc quê. Thật ra, mỗi lần đụng đến thi cử là tôi lại nhớ mẹ đến quặn lòng, nên tôi cử ăn bún để được cái cảm giác ấm áp thiêng liêng như hôm đó mình đang có mẹ thật gần

Đến khi lên Huế học, những huyền thoại về bún bò Huế càng có vẻ mọc cành mọc lá sum sê hơn. Thế giới học trò cũng nhỏ bé và xinh xinh như thành phố. Phía sau trường Hàm Nghi của tôi là Viện Bảo Tàng và nhà thờ Nguyễn Phước Tộc hay là Tôn Nhân Phủ. Bên kia đường là cửa Hiển Nhơn vào Đại Nội. Kế đó, có hai trường văn nghệ nhất Huế, đó là trường Quốc Gia Âm Nhạc và Cao Đẳng Mỹ Thuật mà lũ học sinh nghịch ngợm của chúng tôi thường chọc mấy anh chị sinh viên bằng cách gọi là “Trường Kèn” và “Trường Cọ”. Sinh viên hai trường Kèn Cọ thường la cà ở quán cà phê Tôn, nơi đó, thật ra chỉ là một chiếc xe kiểu xe sinh tố đặt mé trái trước Tôn Nhân Phủ do vợ chồng bác Tôn đứng bán bún bò và cà phê. Giới nghệ sĩ lang thang thường bàn luận một cách công khai rằng, ngày nào vợ chồng bác Tôn không cãi nhau là ngày đó bún bò không ngon vì thiếu đi cái “tinh thần hào sảng” của cặp vợ chồng bác Tôn khi nấu bún.

Giới văn nghệ sĩ cà phê Tôn còn đi xa hơn khi kháo nhau rằng nếu lỡ một mai kia, lịch sử thành thơ đưa họ lên làm lãnh tụ, thì họ sẽ đặt tên con đưòng từ Vỹ Dạ lên Ga Huế là "Đường Cơm Hến" và đường từ cầu An Cựu lên cầu Trường Tiền là "Đại Lộ Bún Bò" vì mỗi buổi sáng tinh sương, dọc trên con đường nầy có cả đoàn bún gánh phát xuất từ An Cựu tỏa ra khắp thành phố Huế. Khói xanh đun nồi bún bay phơ phất trên đường như một sự mời gọi êm đềm: Bún bò An Cựu, cơm hến Đò Cồn, trứng lộn Chợ Dinh, bánh canh Nam Phổ... Cũng may hay cũng buồn, lịch sử không phải là thơ nên tuy Huế có những con đường tình cảm mang tên kỷ niệm và giai nhân bất thành văn như đường Hàng Me, đường Áo Trắng, nhưng vẫn chưa có tên đại lộ Bún Bò.

Bản thân tôi từ một vùng quê ruộng đồng lên tỉnh học, sau mấy năm học đòi văn hóa Huế, cũng bị nhiễm bún bò rất nặng. Tôi đã ưu tư nhiều về sự hiện diện của bún bò giò heo kể từ khi làm quen với một cô hàng xóm nhân dịp cô đi xe đạp, vạt áo dài tung bay phất phới và cuốn theo chiều gió mà quấn vào trong giây "sên", trong "ổ líp". Tôi bèn ra tay cứu khổn phò nguy gỡ áo em ra và không quên bôi thêm dầu sên lên tay lên mặt cho ra vẻ lẫm liệt, can trường. Tên cô là Mộng Hoàng, tất nhiên có cái họ đi trước rất chi là thế gia vọng tộc. Chỉ mới cái tên thôi cũng đủ biến tôi thành Trương Chi bên cạnh Mỵ Nương đi xe đạp mất rồi. ễ làng, tôi đi từ xóm trong ra xóm ngoài để sưu tầm những tên giai nhân đẹp nhất thì cũng chỉ có những Nguyễn Thị Gái, Trần Thị Chắt, Lê Thị Dẹp... đào đâu ra có Mộng, có Hoàng.

Những buổi sáng, tôi và Hoàng vẫn đạp xe đạp song song chung đường từ Thành Nội, qua cầu Trường Tiền, rồi Hoàng vào Đồng Khánh và tôi vào Quốc Học. Đôi ba lần Hoàng quay sang phía tôi cười, một phiến ớt màu bún bò tí ti đỏ chói nằm trong góc chiếc răng khểnh trắng nõn nà của Hoàng. Tự nhiên tôi cảm thấy hơi mất đi cái cảm giác thanh thoát khi nhìn sự hiện diện vô duyên của ớt màu nằm trên chiếc răng khểnh duyên dáng đã làm tôi xao xuyến bao lần. Tôi lên tiếng, nhẹ nhàng như nắng, sợ làm vỡ những giọt sương tình cảm long lanh. Rồi cả hai đứa dừng lại, đứng khuất sau gốc cây long não, tôi xé mảnh giấy trắng nhất trong tập vở học trò, vo lại thành cây tăm và nín thở khêu chút ớt màu bún bò vô tình nằm chênh vênh không đúng chỗ. Hai đứa nói nhỏ như ngại hàng long não đứng nghe. Hoàng vùng vằng sợ tôi nhìn sâu hơn đáy mắt:

- Ngó dữ chưa tề, dị chết!

Tôi thanh minh như Vương Tử Trực:

- Coi tề, không ngó chộ mô mà khêu!

Khi lên xe đạp đi tiếp, Hoàng phàn nàn, cái phàn nàn mà tôi cho rằng đáng lẽ ra là một sự biết ơn:

- Me phiền dễ sợ! Sáng mô cũng bắt Hoàng ăn bún bò ớn phát sợ luôn.

Cái "ớn phát sợ" của Hoàng lại là cái ước mơ ngoài tầm tay của đám học trò nghèo như tôi. Cứ tưởng tượng mỗi buổi sáng, khi trời Huế còn lành lạnh mà được ăn một tô bún bò giò heo, có váng mỡ vàng mơ ngã hồng trên mặt, nêm thêm một "múi đũa" ớt tương màu huyết dụ chắc sẽ sáng mắt sáng lòng mà học một nhớ mười. So với một chén cháo gạo với muối trắng của tôi hay một chén cơm chan chút nước mắm ớt của tụi bạn cùng hoàn cảnh ăn điểm tâm trước khi đi học, tự nhiên một cảm giác hơi buồn buồn pha chút tủi thân lặng lẽ dâng lên trong lòng. Bún bò tự nó không có giai cấp, nhưng giai cấp tự nó có bún bò: Phận nghèo bấm bụng nằm co. Giàu thời nem chả, bún bò giò heo!

Tuổi trẻ của Huế êm đềm và dễ hòa diệu sống như giòng sông Hương. Tôi đã quên rất nhanh hình ảnh tô bún bò của Hoàng và chén cháo gạo của tôi. Hai đứa chưa bao giờ dám nói thương nhau mà chỉ lửng lơ nói chuyện đã cùng "thương con đường đi học". Mỗi cô gái Huế đều có một bà chúa trong hồn và mỗi cậu con trai Huế đều có một ông hoàng trong bụng. Bà chúa thì thích sang mà ông hoàng thì thích ngọt, cho nên tôi đã nhẹ dạ nghe Hoàng dỗ ngọt mà hẹn hò lần đầu lên chùa Thiên Mụ và về ăn bún bò Kim Long. Chúng tôi đã phạm vào hai điều tối kỵ làm tan vỡ bao nhiêu mối tình đầu đẹp như mơ của Huế: Đó là hẹn hò lần đầu không được lên chùa Thiên Mụ và không được ăn bún. Đồi Linh Mụ là đất thần kinh, nơi để chiêm bái chứ không phải là nơi tính chuyện ân tình hò hẹn. Tình cảm trai gái chớm mầm trên đất thánh thì sẽ không bén rễ trong tim người. Còn ăn bún là trơn tru, không níu kéo như gừng cay muối mặn, nên cuộc tình rồi cũng theo bún mà trôi đi! Rất có thể bà Linh Mụ đã nhìn thấy tôi và Hoàng hò hẹn, cho nên mới "xui" về Kim Long ăn bún. Bởi vậy, nên tới Hè, Hoàng giã từ Đồng Khánh, chuyển qua Jeanne d'Arc để chuẩn bị đi Tây.

Kỷ niệm chia tay cũng êm đềm mà nhức buốt như những cơn mưa phùn tháng Giêng của Huế. Hoàng gởi cho tôi cuốn sổ lưu bút có giấy pơ-luya màu xanh, màu trắng, màu hồng; có thắt nơ tím với câu thơ tiếng Tây quá quen thuộc với tuổi học trò của Huế ghi nắn nót ở trang đầu: "Partir, c'est mourir un peu!... Ra đi là chết trong lòng một ít. Biết nói sao bây giờ?!". Tôi là học trò ban B (Toán - Lý Hóa toàn ròn) nên trong đầu lúc nào cũng lùng bùng ròng những đạo hàm và ẩn số của thầy Trần Tuệ và thầy Hồng Giũ Lưu. Huế lại là vùng đất ưa hò vay trả. Đào đâu cho ra chút văn chương man mác nòi tình mà đáp lại cho Hoàng đây. Tôi bỏ cả việc đi trại Hè để cố đào cho ra dăm câu thơ nếu không “ác liệt” thì ít ra cũng có vẻ môn đăng hộ đối với Hoàng. Bên tê dẫn thơ Tây thì bên ni phải trích thơ Mỹ. Tôi vô thư viện, tìm mục thơ tình lãng mạn để kiếm vài câu làm thuốc. Thơ tình chết tiệt rủ nhau trốn đâu mất cả. Bí quá, bỗng vớ được vài câu thơ đề tựa cuốn sách của Helen Steiner Rice, tôi thấy như mở cờ trong bụng: “Somebody loves you than you know. And will always be with you wherever you go!” (Ai nào thấu hết tình ai. Chân mây góc biển thương hoài ngàn năm). Và, để phụ đề Việt ngữ tôi chọn hai câu thơ của Hàn Mặc Tử, đọc đi đọc lại đắc ý nổi da gà: “Người đi một nửa hồn tôi mất, Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ!”.

Kèm với thơ thẩn là cái lược bằng gỗ trầm hương, vật kỷ niệm của mẹ, tôi xin và tặng lại cho Hoàng mà bỗng tự cảm thấy mình sâu sắc như một người tình trong chuyện thần thoại;Năm 1992 về lại con đường cũ, đọc thơ Xuân Hoàng mà nhớ bâng khuâng đốm ớt bún bò và nét cười răng khểnh:

Tôi đi trên đường Lê Lợi dọc sông Hương

Nắng trong suốt lọc qua hai hàng long não

Đất nước đổi thay qua bao mùa giông bão

Con đường xưa vẫn dáng dấp diệu kỳ...

Hơn mười năm, tôi mới có dịp trở lại chen chân trên đường phố Huế vào một buổi chiều 29 Tết. Đi trong nắng cuối Đông dìu dịu thương quen của Huế mà cứ ngỡ như mình mới xa Huế hôm qua. Nghĩ đến mai xa Huế tự nhiên tôi có cảm gíác như mình là kẻ phụ tình với Huế. Huế vẫn lặng lẽ chờ đợi như người tình trăm năm mà tôi thì cứ dứt áo ra đi lang bạt kỳ hồ.

Rồi quả đất cũng tròn và thế giới nầy cũng nhỏ nên “những kẻ phụ tình với Huế” vẫn có lúc gặp nhau ở quê người như một sự tình cờ của định mệnh. Hơn 30 năm sau, rất tình cờ, tôi gặp lại Mộng Hoàng ở Little Sàigòn, Quận Cam Ca-li. Tôi nhận ra Hoàng, bà chủ tiệm ăn có tên vừa Tây vừa Huế, nhờ chiếc răng khểnh "thương bắt chết" vẫn tô điểm cho nụ cười duyên dáng ngày xưa. Tất nhiên, tôi từ phương xa ghé vào đây cũng vì món "bún bò Huế chính gốc". Nhắc chuyện cũ, cả hai đứa cùng cười ngặt nghẽo. Giọng Hoàng tuy phảng phất một chút âm vang trời Tây nhưng vẫn chưa phai màu Huế:

- Thời nớ, răng tụi mình dễ thương dễ sợ hí!

Tôi cười cười nhắc lại:

-Sau nớ, còn ai khêu ớt trên răng cho Hoàng nữa không?

Mắt Hoàng bỗng thoáng một chút trầm tư "nhắc làm chi sương khói thuở xa xăm" và ánh lên màu kỷ niệm:

- Lạ chưa tề. Nhắc chi nữa, dị chết!

Tôi nhìn Hoàng. Mắt bâng quơ đậu trên vài ba sợi tóc loà xòa điểm bạc. Hoàng biết và ngúng nguẩy che đi. Hoàng nói thật bất ngờ, giọng trang đài như đọc câu thơ tình thời cổ:

- Chải lược trầm hương nên sớm thành tóc bạc!

Tôi hiểu Hoàng nói gì nhưng phản ứng như anh học trò cả ngố:

- Thơ của ai rứa Hoàng?

Hoàng trả lời “mần đày”:

-Thơ ai? Thơ ông cai bến đò!

Đàn bà Huế mà đã “mần đày” thì Tần Thủy Hoàng cũng phải biết rằng mình đã lỡ vô tình, cần lẳng lặng chui vào ổ rơm nằm ngủ qua đêm.

Rứa đó! Dân Huế suốt đời vẫn là những đứa trẻ thơ mỗi lần nhớ Huế, nhớ những kỷ niệm đã thiu thiu ngủ trong ký ức và trên quê mẹ của mình.

Xa quê, rủ nhau ăn một tô bún bò Huế nấu bằng heo Mỹ, bò Anh, ruốc Tàu, bún Nhật... Miếng ăn có thể khác nhau vì ngon hay dở, nhưng nỗi nhớ quê nhà thì vẫn hiu hắt giống nhau trong cùng thẳm của mỗi tấm lòng. Bún bò Huế đã vượt sông Mỹ Chánh ra Bắc, vượt đèo Hải Vân vô Nam, vượt trùng dương sang Âu tới Mỹ. Giữa những phố phường xa lạ quê người, đọc trên một tấm biển của một tiệm ăn nào đó có ghi “Bún Bò Huế”, người Việt tha hương nào mà khỏi thấy lòng mình ấm lại. Bún Bò Huế không còn là riêng của Huế mà hương sả nồng, vị ớt cay, mùi ruốc mặn đã thấm vào mạch đất quê hương và lòng dân tộc Việt đầy yêu thương nhưng cũng lắm đoạn trường chưa có ngày sum họp.

Trần Kiêm Đoàn


Cảm ơn bạn đã ghé thăm site của MIMOSATOUR! Bạn hãy để lại lời nhận xét (comment) của mình! Hoặc bạn cũng có thể đăng kí nhận bản tin RSS. Chúng tôi hy vọng bạn thích site này của MIMOSATOUR và tìm được những thông tin bổ ích, và nếu có thể hãy thêm địa chỉ site này vào favorites của bạn để có thể ghé thăm lại. Cám ơn!