Thứ Bảy, 27 tháng 9, 2008

TEAMBUILDING

TEAM BUILDING - TRÒ CHƠI LỚN LÀ GÌ: MỘT SỐ TRÒ CHƠI LỚN TIÊU BIỂU

TeamBuilding
Thông tin chung
Điểm đến: TeamBuilding
Các hoạt động:
Điểm xuất phát:TeamBuilding
Điểm đến:TeamBuilding
Nhóm tối đa:TeamBuilding
Loại chương trình:TeamBuilding
Mã chương trình:TeamBuilding
Ngày khởi hành:TeamBuilding
Giá tour:TeamBuilding
Giới thiệu chương trình
Chủ đề của Trò chơi lớn có thể là: những câu chuyện lịch sử truyền thống, chuyện cổ tích thần thoại, chuyện phiêu lưu mạo hiểm, trinh thám, khoa học viễn tưởng hay họp bạn… Tên của Trò chơi lớn phải gắn với chủ đề nhằm giúp người chơi vào vai trong suốt cuộc chơi. Ví dụ như: Đi tìm kho báu của Thần Mặt trời, Chiến thắng Điện Biên Phủ, Hành trình khoa học…
Thông tin chi tiết
TRÒ CHƠI LỚN LÀ GÌ: MỘT SỐ TRÒ CHƠI LỚN TIÊU BIỂU
Phần I: TRÒ CHƠI LỚN LÀ THẾ NÀO?
Để có thể tổ chức tốt một chương trình Trò chơi lớn thật hấp dẫn, vui tươi thì phải đòi hỏi một số yêu cầu như sau:
I. ĐỐI VỚI NGƯỜI CHỈ HUY CHUNG:
1. Phải xác định chủ đề, tên gọi, mục tiêu của Trò chơi lớn:
Chủ đề của Trò chơi lớn có thể là: những câu chuyện lịch sử truyền thống, chuyện cổ tích thần thoại, chuyện phiêu lưu mạo hiểm, trinh thám, khoa học viễn tưởng hay họp bạn…
Tên của Trò chơi lớn phải gắn với chủ đề nhằm giúp người chơi vào vai trong suốt cuộc chơi. Ví dụ như: Đi tìm kho báu của Thần Mặt trời, Chiến thắng Điện Biên Phủ, Hành trình khoa học…
Mục tiêu và yêu cầu của trò chơi là nhằm kiểm tra kỹ năng chuyên môn, giáo dục truyền thống, rèn luyện thể chất và giao lưu giữa các bạn.
2. Phải nắm vững kỹ năng chuyên môn:
Kỹ năng chuyên môn là gì? Là các lý thuyết được huấn luyện bây giờ ứng dụng cụ thể trong kỳ trại hay Trò chơi lớn.
Người tổ chức Trò chơi lớn giỏi phải là người nắm vững các kỹ năng sinh hoạt tập thể như: truyền tin, mật thư, nút dây, dấu đường, cứu thương… và phải có kinh nghiệm trong xử lý các tình huống trong Trò chơi lớn như: các đội quá khích, đi sai theo lộ trình dự kiến…
3. Phải nắm rõ địa hình, địa thế:
Trò chơi lớn có thành công không cũng phụ thuộc nhiều vào việc người thiết kế Trò chơi lớn biết chọn địa điểm sao cho phù hợp với cuộc chơi. Trên từng ngã đường, đồi núi, cây cỏ, sông suối… phải gắn liền với nội dung hoạt động cho phù hợp kịch bản.
Mặt khác người tổ chức phải biết cách vẽ sơ đồ Trò chơi lớn, bản đồ chạy trạm và cách thức di chuyển. Cách di chuyển giữa các trạm ra sao? Hình thức chạy trạm xoay vòng hay cuốn chiếu? Đi cụm hay từng đội riêng biệt?
Để thực hiện tốt việc bố trí trạm qua căn cứ địa hình, bắt buộc người tổ chức phải tham gia tiền trạm.
Ghi chú: “tiền trạm” là một thuật ngữ trong sinh hoạt để nêu lên quá trình nghiên cứu thực địa nơi ta dự kiến tổ chức hoạt động nhằm nắm được các yếu tố thiên nhiên và con người địa phương. Qua đó tổ chức tốt các hoạt động tại trại.
4. Bố trí lực lượng cho Trò chơi lớn:
a. Đối với lực lượng Ban tổ chức:

Phải xác định có bao nhiêu trạm, địa điểm ở đâu?
Mỗi trạm bao nhiêu người? Có đủ sức không?
Nhiệm vụ của từng thành viên trong mỗi trạm?
Việc điều phối bổ sung lực lượng của trạm ra sao?
Nội dung mỗi trạm làm gì?
“Kỷ luật - Thống nhất - Công bằng - Tuyệt đối bí mật” là những nguyên tắc mà mỗi thành viên trong Ban tổ chức phải chấp hành.
b. Đối với người tham gia Trò chơi lớn:
Số lượng người chơi là bao nhiêu?
Sự chênh lệch giữa nam – nữ? Điều đó có quan trọng không?
Độ tuổi của người tham gia? Có ảnh hưởng gì không?
Trình độ và mức độ tham gia của các đội?
Nếu ta trả lời được những câu hỏi đặt ra thì ta sẽ thiết kế trò chơi vừa sức, không quá khó hay quá dễ. Cuối cùng có thể chuẩn bị cho mỗi đội tham gia có đặc điểm riêng biệt nhằm dễ nhận biết như nón, áo, thẻ đeo…

5. Xác định thời gian diễn ra Trò chơi lớn:
Ta căn cứ vào những yếu tố: tổng số trạm, đoạn đường di chuyển, trình độ tham gia của các đội và mức độ các nội dung thử thách để xác định thời gian tối thiểu và tối đa cho từng trạm và cả cuộc chơi.
Tùy vào chủ đề, địa điểm, thời tiết, điều kiện tổ chức, đối tượng tham gia mà ta xác định thời điểm xuất phát và kết thúc của cuộc chơi: ban đêm, khuya, sáng hay chiều.
6. Chuẩn bị phương tiện, dụng cụ:
Ta phải căn cứ vào nội dung thử thách từng trạm mà tiến hành chuẩn bị các dụng cụ cho cuộc chơi thật đủ và chi tiết. Nên chăng có thêm công tác chăm lo sức khỏe cho người tham gia. Yếu tố vật dụng trò chơi cũng được xem là quan trọng vì nó diễn tả ý đồ kịch bản được hoàn hảo.
Trước khi diễn ra Trò chơi lớn phải họp Ban tổ chức để rà soát lại sự chuẩn bị của các trạm và có thể thông báo cho các đội và cá nhân người tham gia những vấn đề cần chuẩn bị trước.
7. Xây dựng kịch bản và diễn tiến Trò chơi lớn:
Khi đã nắm vững các yêu cầu trên thì công việc cuối cùng là viết kịch bản Trò chơi lớn

Bao gồm:
a. Những vấn đề chung:
Tên trò chơi? Mục đích, yêu cầu? Số lượng tham gia?
Thời gian tiến hành? Nội quy và hiệu lệnh chung?
Biên chế đội? Vật dụng các trạm?

b. Diễn biến trò chơi phải tuân theo trình tự như kịch bản:
Trạm xuất phát ở đâu? Kết thúc ở đâu?
Diễn biến chạy trạm? Xoay vòng hay cuốn chiếu?
Ai chịu trách nhiệm điều phối diễn biến trò chơi?
Trước khi chơi, người điều phối có thể giới thiệu sơ nét về tên gọi và những chặng thử thách cho người chơi. Để tạo sự bất ngờ và thú vị cho người chơi thì toàn bộ kế hoạch Trò chơi lớn phải được giữ bí mật tuyệt đối.

II. ĐỐI VỚI NGƯỜI THAM GIA:
1. Phải có sức khỏe:
Đây là tiêu chuẩn đầu tiên vì Trò chơi lớn đòi hỏi sự vận động tối đa cả về trí tuệ và sức lực, nếu sức khỏe yếu sẽ ảnh hưởng cho đơn vị trong quá trình chơi.
2. Phải có kỹ năng:
Người chơi phải biết ít nhất một trong những nội dung sinh hoạt tập thể để thực hiện tốt các nội dung tại trạm. Đa số qua các Trò chơi lớn thì lực lượng “ăn theo” dường như đông hơn những bạn có chuyên môn. Qua cuộc chơi thì những bạn này cũng sẽ rút ra những kinh nghiệm và bài học cho riêng mình để phấn đấu trong thời gian tới.
3. Phải có tính kiên trì, chịu khó, linh hoạt, sáng tạo và chủ động được thời gian: Đây là vai trò, đức tính của người phụ trách, đội trưởng mỗi đội.
4. Phải trung thực, ý thức kỷ luật và tinh thần tập thể cao: Đây là nguyên tắc bắt buộc của người tham dự Trò chơi lớn.

Phần II: TRÒ CHƠI LỚN CHIA LÀM MẤY LOẠI
1. Người ta phân Trò chơi lớn ra khá nhiều loại như:
Hội quân: các cánh từ khắp nơi tập trung về.
Liên lạc: từ 1 điểm tỏa ra rồi liên lạc quay trở về.
Vượt tuyến: dẫn quân vượt qua trận tuyến của phe địch.
Truy kích: dẫn quân tìm dấu vết của đội đi trước để tấn công.
Công đồn: vừa tấn công đồn giặc và vừa bảo vệ căn cứ của mình.
Tiến công vòng tròn: A đánh B, B đánh C, C đánh A.
Trận giả: có thể chia từ 2 phe trở lên.
Hành trình: theo diễn biến có 1 mới có 2 và có 3… hoặc diễn ra trong cả quá trình du khảo, tham quan.
2. Ta có thể chia Trò chơi lớn làm 3 loại:
a. Cách chạy trạm “Xoay vòng”: các đội từ trạm Trung tâm tỏa đi các hướng và thực hiện các nội dung tại trạm, sau đó di chuyển theo cùng 1 chiều. Kết thúc 1 vòng các đội có thể tập trung về hay kết thúc tại trạm cuối.
Ví dụ: ta có 3 đội thì sẽ bố trí 3 trạm, từ trạm trung tâm đội A sẽ chạy theo hướng trạm 1 – 2 – 3, đội B thì chạy theo hướng trạm 2 – 3 – 1 và C thì chạy 3 – 1 – 2. b. Cách chạy trạm “Cuốn chiếu”: các đội lần lượt đi từ trạm xuất phát (trạm 1) đến trạm 2 rồi trạm 3… đến trạm kết thúc.
c. Cách chạy trạm “Phối hợp”: kết hợp giữa cách chạy trạm xoay vòng và cuốn chiếu.
Sau đây xin giới thiệu các bạn một số gợi ý kịch bản trò chơi lớn đã được tổ chức
KỊCH BẢN “VIỆT NAM - NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ” - Thời gian: dự kiến diễn ra trong 1 giờ 30 phút. - Địa điểm: Công viên Văn hóa Thành phố (Tao Đàn). - Số lượng: 8 đội (mỗi đội 50 bạn thiếu nhi). - Chạy trạm: theo hình thức xoay vòng. - Vật dụng chơi: Ban tổ chức chuẩn bị bong bóng, bao nilon, nước, dây dù, dây nilon, lon sữa bò, dây thun, bản đồ. Mỗi đội chuẩn bị nón tai bèo, cờ…
TRẠM TRUNG TÂM: VIỆT NAM – HÙNG VƯƠNG
Địa điểm: Đền Hùng - Mật thư đến trạm: Ban tổ chức sử dụng giấy A4 cắt thành nhiều miếng để ráp lại. Nội dung để di chuyển đến là: “Các vua Hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta hãy cùng nhau giữ lấy nước ”. 1. Tác giả câu nói? Địa điểm tác giả nói? 2. Toàn đội tập trung tại địa điểm này để nhận lệnh. - Nội dung: - Tập trung điểm số báo cáo (5 điểm) - Kỷ luật (5 điểm) - Phổ biến quy định. - Trò chơi “Gương mặt những anh hùng” (20 điểm)

Thể lệ: 10 bạn mỗi đội đến trạm được phát một tập những chữ cái bất kỳ và 1 trong những câu sau: + “Ngọn đuốc sống thành đồng” ð bộ chữ (Lê Văn Tám). + “Người nữ anh hùng Đất Đỏ” ð bộ chữ (Võ Thị Sáu). + “Người đoàn viên đầu tiên” ð bộ chữ (Lý Tự Trọng). + “Vì bạn quên thân mình” ð bộ chữ (Nguyễn Bá Ngọc). Các đội trong thời gian ngắn nhất phải sắp xếp các chữ cái lại với nhau thành tên những anh hùng tuổi trẻ, Ban tổ chức tính thời gian. - Thử thách “Duyệt quân theo đội hình” (40 bạn) (10 điểm) Thể lệ: Các đội diễu hành đội hình theo nghi thức Đội qua lễ đài. Ban tổ chức chấm theo thang điểm đều – đẹp. - Giải được mật thư đến trạm (10 điểm)

TRẠM: BẠCH ĐẰNG GIANG - Địa điểm: Cổng đường Cách mạng Tháng 8. - Mật thư đến trạm: nội dung là “ Sông nào sử sách lưu danh Với muôn cọc nhọn tan tành quân Nguyên? ” Đố là sông nào? Tập trung về địa điểm này nhận lệnh.
Nội dung: - Trò chơi “Vượt sóng Bạch Đằng” (15 điểm) Thể lệ: 10 bạn xếp giấy thành 10 chiếc tàu rồi thả xuống hồ, thổi cho tàu từ mức khởi hành đến đích. Cách chấm điểm căn cứ thành tích đội nào có thời gian ít nhất tính điểm cao nhất. - Trò chơi “Đếm chiến thuyền giặc” (15 điểm) Thể lệ: 20 bạn cử ra đếm số thuyền trên bảng (có 4 màu, 3 loại chiến thuyền khác nhau). Đội nào có tỷ lệ gần đúng sẽ có điểm cao hơn (Trò chơi Kim). - Kỷ luật (5 điểm) - Mật thư đến trạm (5 điểm)
TRẠM: GÒ ĐỐNG ĐA - Địa điểm: Khu vực cổng Huyền Trân Công chúa. - Mật thư chạy trạm: nội dung là “Vua nào còn nhớ vang danh Tiến quân thần tốc, quân Thanh tan tành” 1. Đố là vua nào? Trận thắng nào? 2. Tập trung tại vị trí địa danh này.

Nội dung : - Trò chơi “Hành quân thần tốc” (15 điểm) Thể lệ: Trong thời gian ngắn nhật 18 bạn sẽ chia làm 6 nhóm, mỗi nhóm 3 bạn, 2 bạn vác 2 đầu thanh tre 2m có mắc võng lần lượt đưa các thành viên của đội mình vượt qua các chướng ngại để đến nơi an toàn. - Trò chơi “Công đồn Ngọc Hồi” (15 điểm) Thể lệ: Đội cử ra 12 bạn sử dụng “máy bắn đá” lần lượt chuyền những bịch nước và bắn vào mục tiêu. Nên căn cứ vào độ chính xác và không khí chơi để tính điểm. - Kỷ luật (5 điểm) - Mật thư đến trạm (5 điểm)

TRẠM 3: ĐIỆN BIÊN PHỦ - Địa điểm: Cổng Nguyễn Thị Minh Khai. - Mật thư chạy trạm: nội dung là “… 56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non…” 1. Bài thơ nói về địa danh lịch sử nào? 2. Hóa trang thành các chiến sĩ thời kỳ này đến chờ lệnh.

Nội dung: - Trò chơi “Đặt bộc phá công đồn” (15 điểm) Thể lệ: Toàn đội xếp hàng 2 và lần lượt ôm những trái banh chui qua những hàng rào do Ban tổ chức thiết kế đặt vào vị trí định sẵn. Ban tổ chức sẽ đặt những lon nước trên những hàng rào, ngoài ra còn có hệ thống pháo kích và bắn súng nước. Chiến sĩ nào bị thương sẽ được 4 bạn đứng ngoài cáng đến trò chơi tiếp. Tính điểm dựa trên sự nhiệt tình. - Trò chơi “Quân y trên chiến trường” (20 điểm) Thể lệ: Các đội cáng các chiến sĩ theo sự hướng dẫn của Ban tổ chức sẽ vượt qua các chướng ngại để đến nơi và thực hành các thao tác sơ cấp cứu. - Kỷ luật (5 điểm) - Mật thư đến trạm (5 điểm)

TRẠM 4: CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH * Địa điểm: cổng đường Nguyễn Du. * Mật thư chạy trạm: nội dung là “…Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù Tiến về Sài Gòn, giải phóng thành đô” 1. Bài hát thể hiện không khí của chiến dịch nào? 2. Toàn đội tập trung tại địa điểm này. * Nội dung: - Trò chơi “Vượt dãy Trường Sơn” (15 điểm) Thể lệ: Đội cử 20 bạn lần lượt từng người vượt qua những chướng ngại vật như: “Băng suối” (đi trên những viên gạch xếp bất kỳ), “Vượt đèo” (leo thang cao 3m), “Xuyên rừng” (đu dây). Tính thời gian để tính điểm cho từng đội. Lưu ý cộng điểm cho đơn vị có sự cổ động nhiệt tình của đồng đội. - Trò chơi “Trên dãy Trường sơn ta hát” (15 điểm) Thể lệ: Đội 20 bạn ngồi vòng tròn, người sau viết bài hát trên lưng người trước. Cùng lúc các đội phải hát 1 bài hát thứ 2. Tính điểm theo độ chính xác của bài hát. - Kỷ luật (5 điểm) - Mật thư đến trạm (5 điểm) * Khi các đội hoàn tất nội dung thử thách của 4 trạm thì có thể tổ chức hình thức đánh trận giả theo hướng tổng công kích về một địa điểm cắm cờ lệnh. Ban tổ chức có thể làm sẵn các chiến xa (một khung tre 2m x 2m) để các bạn chui vào và di chuyển thì sẽ tạo không khí hấp dẫn và tăng độ khó thêm cho trò chơi.
KỊCH BẢN “RẠNG NGỜI TRANG SỬ ĐỘI” TRẠI “SÁNG NIỀM TIN” – HỘI ĐỒNG ĐỘI TPHCM – NĂM 1996 - Thời gian: dự kiến diễn ra trong 1giờ 30 phút. - Địa điểm: Công viên Lê Văn Tám. - Số lượng: 16 đội chia làm 4 cụm (mỗi đội 20 bạn) . - Chạy trạm: theo hình thức xoay vòng. - Vật dụng chơi: Ban tổ chức chuẩn bị bao nilon, nước, dây dù, dây nilon, lon sữa bò, dây thun, bản đồ, dây thừng, thang tre. Mỗi đội chuẩn bị nón tai bèo, khăn quàng…
TRẠM TRUNG TÂM “TRUYỀN THỐNG ĐỘI TA”: - Địa điểm: Tượng đài Lê Văn Tám. - Mật thư đến trạm: sử dụng giấy A4 vẽ thành bản đồ 4 hướng di chuyển cho 4 cụm. Sử dụng tín hiệu morse để phát lệnh. - Nội dung: - Tập trung điểm số báo cáo - Phổ biến quy định và phát bản đồ. - Phát lệnh về các trạm.

TRẠM 1: KIM ĐỒNG - Địa điểm: gần cổng đường Điện Biên Phủ. - Mật thư đến trạm: bản đồ. - Nội dung: - Trò chơi “Anh Kim Đồng vượt suối” (15 điểm) Thể lệ: Mỗi đội cử 10 bạn xếp hàng một rồi lần lượt bạn thứ 1 đi trên những viên gạch để sẵn, trên tay cầm 1 cần câu trúc. Đến vị trí cuối cùng bạn đó sẽ dùng cần câu sao cho móc câu nhấc được lon từ vị trí A sang B (tượng trưng cho việc câu cá), sau đó quay về đưa cần cho người thứ 2 lên nhấc lon từ B sang A và cho đến người cuối cùng. Cách chấm điểm căn cứ thành tích đội nào có thời gian ít nhất tính điểm cao nhất. - Trò chơi “Truyền tin trong đêm” (15 điểm) Thể lệ: Mỗi đội cử 8 bạn thành hàng một ngậm mẩu giấy có ghi 1 câu hỏi về truyền thống Đội và vượt qua các chướng ngại sao cho không rơi tờ giấy. Trong quá trình di chuyển các bạn không được chạm tay vào tờ giấy. Khi đến người cuối cùng thì sẽ trả lời được câu hỏi trên là đạt điểm tối đa. - Trò chơi “Bí mật ở đâu?” (5 điểm) Thể lệ: Mật thư được Ban tổ chức viết đằng sau 2 bức tranh ghép hình, các bạn phải ghép được bức tranh và sau đó mới giải mã bản văn. Đội nào giải được toàn văn mật thư xem như thắng cuộc. - Kỷ luật (5 điểm)

TRẠM 2: LÊ VĂN TÁM * Địa điểm: Gần cổng Võ Thị Sáu. * Mật thư chạy trạm: bản đồ * Nội dung: - Trò chơi “Hành quân lên Tây Bắc” (10 điểm) Thể lệ: Mỗi đội cử 12 bạn sẽ chia làm 4 nhóm, mỗi nhóm 3 bạn, 2 bạn làm kiệu cùng đưa quân qua các vật cản của Ban tổ chức để đến nơi an toàn để vào trò chơi “Giải phóng Điện Biên”. - Trò chơi “Giải phóng Điện Biên” (10 điểm) Thể lệ: Mỗi đội cho 12 bạn lần lượt tiến vào các vị trí có đặt cờ tượng trưng cho các cứ điểm của địch và lấy các lá cờ. Ban tổ chức sẽ bố trí hệ thống pháo kích (bịch nilon nước) và bắn súng nước. Chiến sĩ tuy bị thương nhưng vẫn tiếp tục chơi để leo lên vị trí cao nhất là chiến thắng. Tính điểm dựa trên sự nhiệt tình là chính. - Trò chơi “Hình tượng người anh hùng” (15 điểm) Thể lệ: 8 bạn còn lại dùng các vật dụng của đội mình như khăn quàng đỏ, cờ vải… và các vật dụng thiên nhiên để dựng hình tượng những anh hùng như: Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám, Kim Đồng… - Kỷ luật ( 5 điểm)

TRẠM 3: K’PA KƠ-LƠNG * Địa điểm : Gần ngã tư Võ Thị Sáu và Hai Bà Trưng. * Mật thư chạy trạm : bản đồ. * Nội dung : - Trò chơi “Hành quân vượt Trường Sơn” (20 điểm) Thể lệ: Mỗi đội cử 10 bạn lần lượt từng người vượt qua những chướng ngại vật như: “Qua sông” (đi trên sơi dây thừng căng giữa 2 thân cây lớn, độ cao 0m8 và có người bảo vệ), “Xe ta xuyên rừng” (dùng thang tre chơi như trò cỗ xe La Mã), “Xuyên rừng” (chui lượn qua những ô của thang tre). Tính thời gian để tính điểm cho từng đội. - Trò chơi “Tiếng hát giữa núi rừng” (15 điểm) Thể lệ: Mỗi đội cử 10 bạn ngồi thành vòng tròn, người sau viết bài hát thứ 1 trên lưng người trước. Cùng lúc các đội phải hát một bài hát thứ 2. 10 bạn sẽ viết 10 bài hát khác nhau. Tính điểm theo độ chính xác của bài hát. - Kỷ luật ( 5 điểm)

TRẠM 4: LÀ MĂNG NON THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH * Địa điểm: Gần ngã tư Hai Bà Trưng – Điện Biên Phủ. * Mật thư chạy trạm: bản đồ. * Nội dung: - Trò chơi “Ngợi ca Thành phố Bác Hồ” (20 điểm) - Các đội cử 3 bạn làm 1 bài thơ về chủ đề trại, về Bác Hồ, về tương lai của chúng ta… - 17 bạn sẽ múa tập thể và sinh hoạt vòng tròn, cử 1 vài bạn ra chơi trong 5 phút. - Trò chơi “Đội em làm kế hoạch nhỏ” (15 điểm) Thể lệ: Mỗi đội cử 10 bạn cõng 10 bạn còn lại trên lưng và đi nhặt các quả bóng nằm rải rác trong khu vực quy định. Sau thời gian cho phép chấm điểm theo thành tích mỗi đội. * Kết thúc 4 trạm các đội về và tính điểm bằng cách cộng điểm 4 trạm lại. Thế là các bạn đã có 1 số khái niệm về trò chơi lớn, trong những bài sau tôi sẽ giới thiệu một số kịch bản trò chơi mà các bạn khá quen thuộc như Chạy băng đồng hay Thử thách Trường Sơn.Tổ chức Trò chơi lớn (phần 1)- Trong các hoạt động dã ngoại thì được tham dự những trò chơi mà nhất là được tham gia Trò chơi lớn là niềm thích thú của các bạn. Những diễn biến của trò chơi lớn mang lại cho người chơi những vui buồn và thông qua trò chơi thì người tổ chức mong muốn cung cấp những kiến thức về văn hóa lịch sử, truyền thống, kỹ năng sinh hoạt tập thể… Bên cạnh đó, thông qua Trò chơi lớn người tổ chức hiểu thêm về các trại sinh những mặt ưu và khuyết từng người. - Nếu bạn là người đi trại nhiều nhưng chưa một lần được tham dự Trò chơi lớn thì xem như những cuộc trại của bạn sẽ mất đi một phần ý nghĩa và hào hứng. - Trong khi tham gia Trò chơi lớn thì việc được tìm hiểu thêm về ý nghĩa cuộc chơi và kiến thức là then chốt, còn lại là những trò chơi vận động, thử thách nhỏ được kịch bản hóa để nêu bật lòng can đảm, trí thông minh, sự khéo léo và nhanh nhạy của các bạn. Người chơi như cuốn vào những trận đánh, hóa thân thành những chiến sĩ giải phóng quân hoặc sẽ đóng vai thành những dũng sĩ tiêu diệt cái ác bảo vệ hòa bình... và thế là họ xung trận một cách vô tư, nhiệt tình để rồi có những cảm xúc đọng lại sau khi trò chơi kết thúc. - Để tham dự Trò chơi lớn bạn cần phải có một vốn kiến thức về lịch sử xã hội. Ngoài ra, bạn cần biết thêm một số kỹ năng sinh hoạt như: morse, sémaphore, mật thư… và các kỹ năng cơ bản khác. - Trò chơi lớn đòi hỏi các bạn tham gia không chỉ ở cá nhân bạn mà còn thử thách ngay chính tính tập thể của đội mà bạn tham gia. Nếu có sự đoàn kết nhất trí cao độ trong toàn đội thì sẽ tạo được kết quả như đội mong muốn. Không có Trò chơi lớn nào mà đội chiến thắng lại chỉ là một người. - Còn chần chờ gì nữa? Hãy cùng tham gia những Trò chơi lớn!

Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2008

TỔNG QUAN KOMTUM

Giới thiệu chung về KonTum Kon Tum nằm trong những vĩ độ từ 13’’53’’B đến 15016’B, kinh độ từ 107 0 20 Đ đến 108 0 33 Đ Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam. Phía Nam giáp tỉnh Gia Lai. Phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi. Phía Tây giáp tỉnh A Tô Pơ (Nước Công Hoà Nhân Dân Lào ) và Tỉnh Ratanakiri (CămPuchia) Diện tích tự nhiên 961.450 haDân số toàn tỉnh đến nay khoảng 375 nghìn người Kon Tum là một tỉnh miền núi, vùng cao biên giới của Cao nguyên Trung bộ, nằm ở khu vực ngã ba biên giới Việt Nam-Lào-CamPuChia có diện tích tự nhiên 961.450 ha. Phần lớn lãnh thổ Kon Tum nằm ở phía Tây dãy trường Sơn; địa hình đa dạng và thấp dần từ Bắc xuống và từ Đông sang Tây, bao gồm: đồi núi, cao nguyên và thung lũng xen kẽ với nhau rất phức tạp. Phía Bắc đồi núi cao, độ dốc lớn, có đỉnh Ngọc Linh cao 2.598 m. Độ cao trung bình ở phía Bắc từ 800-1.200m, phía Nam độ cao từ 500 - 550m. Kon Tum là nơi bắt nguồn của các sông lớn chảy xuống vùng Duyên hải Miền trung, nơi có diện tích rừng đầu nguồn quan trọng của thuỷ điện Yaly. Vì vậy đây là địa bàn có vị trí rất quan trọng về bảo vệ môi trường, không những của tỉnh mà cả vùng Duyên hải Miền trung, Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh hạ Lào, Cam Pu Chia. - Dân số toàn tỉnh đến nay khoảng 375 nghìn người, với hơn 53% là đồng bào dân tộc thiểu số. Trình độ dân trí còn thấp, tập quán ở một số nơi còn lạc hậu, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, địa hình phân cắt. - Điểm xuất phát của nền kinh tế còn thấp, tốc độ phát triển kinh tế còn chậm. - Công nghiệp chưa phát triển. Nằm ở vùng ngã ba Đông Dương và là nơi hội tụ của các quốc lộ: QL 40, QL14, QL24, Kon Tum cách không xa khu vực phát triển miền Trung (200 - 300 km) là khu vực nằm trong chiến lược phát triển vùng và hệ thống cảng biển miền Trung (khu công nghiệp Liên Chiểu, Dung Quốc, khu kinh tế mở Chu Lai) được nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới. Mặt khác cửa khẩu Bờ Y - Ngọc Hồi sau khi được nâng cấp thành cửa khẩu Quốc tế, kết hợp với việc xây dựng và cải tạo các tuyến quốc lộ (QL 40, QL14, QL24) sẽ tạo cho địa bàn tỉnh trở thành khu vực khởi đầu hội nhập, một địa điểm trung chuyển quan trọng trên tuyến thương mại quốc tế, nối Mianma - Đông Bắc Thái Lan - Nam Lào với khu vực Tây Nguyên, Duyên hải Miền trung và Đông Nam bộ. Đặc điểm khí hậu: Kon Tum nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, nhiệt độ trung bình năm phổ biến các nơi đạt 22 - 230C. Độ ẩm bình quân hàng năm 78-87%. Lượng mưa trung bình hàng năm 1.730 - 1.880 mm, có sự phân hóa theo thời gian và không gian. Vùng núi phía Bắc và Đông Bắc tỉnh có lượng mưa trung bình hàng năm khá cao 2.500-3.000mm, có nơi trên 3.000mm. Những vùng thấp, thung lũng có lượng mưa 1.600-1.800mm. Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa chủ yếu bắt đầu từ tháng 4,5 đến tháng 10, 11, tập trung đến 85 -90% lượng mưa hàng năm. Biên độ dao động nhiệt giữa ngày và đêm khá lớn, nhất là vào các tháng mùa khô. Tài nguyên nước. Mạng lưới Thủy văn phát triển trên địa bàn tỉnh KonTum là chủ yếu của lưu vực sông SêSan, bao gồm ba con sông chính: sông ĐăkBla, sông KrôngPôkô và sông Sa Thầy. các sông này có mạng lưới suối, khe nhỏ dày đặc và phân bố tương đối đồng đều trên địa bàn tỉnh. Tổng lượng dòng chảy của tỉnh KonTum khá lớn, hàng năm đạt 10-11 tỷ m3. Tiềm năng thuỷ điện và thuỷ lợi, nhất là thuỷ lợi rất lớn. Tài nguyên đất. Diện tích đất tự nhiên của tỉnh Kon Tum là 961.450 ha, gồm có 7 nhóm đất, trong đó có 2 nhóm đất có chiếm diện tích lớn nhất là: nhóm đất xám chiếm tỷ lệ cao nhất 93,44% tổng diện tích tự nhiên, kế đến nhóm đất đỏ chiếm 3,36% tổng diện tích tự nhiên. Ngoài ra, cũng có thể kể thêm nhóm đất phù sa chiếm 0,88% tổng diện tích tự nhiên và nhóm đất mùn alit núi cao, một đặc thù của Tỉnh, có tỉ trọng 0,71% tổng diện tích tự nhiên. Đất đai Kon Tum có tầng dày mỏng không đồng đều. Hàm lượng dinh dưỡng của các nhóm đất chính đa phần là trung bình hoặc nghèo, độ chua, độ bazơ thấp. Đất có khả năng phát triển nông nghiệp chủ yếu là các loại đất xám và đất phù sa. Tài nguyên khoáng sản. Trên địa bàn tỉnh Kon Tum có khoảng 214 mỏ, điểm quặng và khoáng hóa, 40 loại khoáng sản. Một số khoáng sản đã được xác định có triển vọng và ý nghĩa đối với phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Khoáng sản có trữ lượng tương đối lớn nhất như: đá vôi, Bô xít, đá Đolomit, felpat, sét, cát, sỏi,... 5. Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học Tổng diện tích đất có rừng toàn tỉnh là: 629.942 ha (Chiếm khoảng 64% tổng diện tích đất tự nhiên). Trong đó, rừng tự nhiên chiếm 597.328 ha. Trong tổng số diện tích rừng tự nhiên có 93.226 ha rừng đặc dụng, bao gồm: Vườn Quốc gia ChưMomRay: 50.734ha, rừng đặc dụng Đăk Uy: 700ha, rừng Bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh 41.420ha; khu trồng thêm trong các rừng đặc dụng: 372,4ha. Tổng trữ lượng gỗ rừng khoảng hơn 60 triệu m3 và gần 950 triệu cây tre nứa. Kon Tum là tỉnh phong phú về hệ sinh thái rừng. Các kiểu rừng chính thường gặp tại tỉnh Kon Tum gồm: Rừng kín cây lá kim, rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới hỗn hợp cây lá rộng, rừng nửa rụng lá ẩm nhiệt đới, rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới, rừng thưa khô cây họ dầu (Rừng khộp). Theo kết quả điều tra bước đầu, tỉnh Kon tum có hơn 1.610 loài thuộc hơn 734 chi và 175 họ thực vật. Đặc biệt trong đó có nhiều loài quí hiếm nằm trong sách đỏ cần được bảo vệ và phát triển như: Sâm Ngọc Linh, vàng đắng, Pơmu, cây Gió bầu (trầm hương),v.v... Động vật rừng.Động vật rừng tỉnh Kon Tum rất phong phú, đa dạng có nhiều loài quí hiếm như: bò tót(Bos Gaurus), bò xám(Bos sauveli), hổ(Panthera tigris), trâu rừng(Bubalus bubalis), Voọc, nai, vượn, khỉ, các loài chim Hồng hoàng,Vệt mỏ vằn,... Thực Vật rừng. Theo kết quả điều tra bước đầu, tỉnh Kon tum có hơn 1.610 loài thuộc hơn 734 chi và 175 họ thực vật. Đặc biệt trong đó có nhiều loài quí hiếm nằm trong sách đỏ cần được bảo vệ và phát triển như: Sâm Ngọc Linh, vàng đắng, Pơmu, cây Gió bầu (trầm hương),v.v... Rừng trên địa phận tỉnh Kon Tum bị chiến tranh tàn phá hủy diệt nặng nề nhất so với các tỉnh vùng Tây Nguyên, đặc biệt do các loại chất độc hóa học, nhiều nơi cho đến nay khó có khả năng phục hồi rừng (kể cả trồng lại). Chỉ tiêu khai thác gỗ ở thời kỳ 1976 đến 1988 vượt xa so với mức độ rừng tái sinh và tăng trưởng hàng năm, trong khi đó rừng trồng rất nhỏ lẻ. Bên cạnh đó tình trạng khai thác lậu cả ở những khu rừng cấm, khu bảo tồn thiên nhiên, cùng với nạn phá rừng là nương rẫy đã làm suy giảm nhanh về diện tích và chất lượng rừng. Từ sau năm 1992 đến nay, hiện trạng rừng ở Kon Tum diễn biến theo xu thế tích cực do đầu tư khoanh nuôi rừng, phục hồi rừng tự nhiên và trồng lại rừng, thực hiện chủ trương "đóng cửa rừng", hạn chế mạnh chỉ tiêu khai thác gỗ hàng năm (từ trên 70.000 m3 năm 1992, còn khoảng 25.000 - 30.000 m3 và hiện nay đang thực hiện chủ trương đóng cữa rừng). Nhiều lâm trường trở thành trung tâm lâm sinh với chức năng nòng cốt khôi phục rừng.
Tên gọi Kon Tum Theo truyền thuyết của dân tộc Bana vùng này được lưu lại rằng : Kon Tum ban đầu chỉ là tên gọi của một làng người Bana. Khoảng trước năm 1800 thì chưa có tên gọi Kon Tum. Thuở ấy trong vùng người Bana (nay thuộc thị xã Kon Tum) có làng người địa phương ở gần bên sông ĐăkBla tên gọi là Kon Trang - or. Lúc ấy làng Kon Trang -or rất thịnh vượng với dân số khá đông. Bấy giờ giữa các làng luôn thường xuyên có sự gây chiến đánh nhau. Vì thế những người đứng đầu làng Kon Trang - or cũng thường hay đem dân làng mình đi đánh phá các làng khác để chiếm đoạt của cải và bắt người về làm nô lệ. Trong số những người đứng đầu làng Kon Trang - or có người tên là Ja Xi, có hai con trai là Jơ Rông và Uông; hai người này không thích cảnh những người đứng đầu làng luôn gây chiến đánh nhau với các làng khác, nên đã ra đi làm nhà ở riêng gần chỗ có hồ nước cạnh sông ĐăkBla. Vùng đất này rất tốt và có nhiều thuận lợi cho việc định cư sinh sống, nên dần dần nhịều người đến ở, mỗi ngày một phát triển thêm đông, lập thành làng mới có tên gọi là Kon Tum. Từ đó Kon Tum trở thành tên gọi chính thức cho một làng mới lập ra của người Bana sát bên bờ sông ĐăkBla, nơi có nhiều hồ nước trũng. Dịch từ tiếng Bana ra tiếng Kinh (Việt), Kon Tum có nghĩa là Làng Hồ (Kon là làng, Tum là Hồ, ao, bàu n­ớc...); và tên gọi Kon Tum gắn liền với địa danh như nội dung đã đề cập trên. Do vị trí đặc biệt, vùng đất Kon Tum là vùng đất bằng, được dòng ĐăkBla uốn quanh, bồi đắp cho những luồng phù sa màu mỡ, trải qua những biến động thăng trầm của lịch sử, vùng đất nơi đây cũng có những biến đổi, đồng bào các dân tộc tụ hội về đây sinh sống mỗi ngày một đông. Người Kinh khi đến với vùng đất bắc Tây Nguyên qua một thời gian tìm kiếm cũng đã chọn vùng đất Kon Tum làm nơi dừng chân định cư sinh sống lâu dài. Kon Tum từ đó trở thành vùng đất cộng cư của nhiều dân tộc anh em. Bằng sự cần cù lao động của con người và điều kiện tự nhiên thuận lợi, vùng đất Kon Tum ngày càng phát triển thịnh vượng, không chỉ một làng mà nhiều làng, bao quát cả vùng đất đai rộng lớn. Vùng đất này khi lập thành thị xã cũng mang tên gọi chính thức là Kon Tum; cả khi đơn vị hành chính cấp tỉnh được thành lập Kon Tum vẫn chính thức được dùng làm tên gọi của tỉnh. Đây là vùng địa lý - hành chính được hình thành sớm nhất ở Tây Nguyên.
ĐỊA GIỚI KON TUM QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ Kon Tum thuở xa xưa còn rất hoang vắng, người thưa đất rộng; nơi tụ cư của các dân tộc bản địa đầu tiên bao gồm: Xê Đăng, Bana, Gia Rai, Giẻ - Triêng; Brâu, Rơ mâm. Mỗi dân tộc gắn với mỗi vùng cư trú khác nhau. Nét đặc biệt trong thiết chế xã hội cổ truyền của các dân tộc ở tỉnh Kon Tum là tổ chức xã hội duy nhất chỉ có làng. Làng được xem như một đơn vị hành chính mang tính bao quát và cụ thể chi phối mọi hoạt động trong đời sống xã hội. Mỗi làng mang tính độc lập riêng biệt do một chủ làng là người có uy tín nhất trong làng đứng đầu. Những thế kỷ sau công nguyên, nhất là thế kỷ VII, VIII, Kon Tum - Tây Nguyên trở thành vùng đệm cho sự giao chiến giữa hai quốc gia Chiêm Thành và Chân Lạp. Thiên nhiên và con người nơi đây trở thành mục tiêu cho sự cướp bóc của cải và cướp bắt, buôn bán nô lệ. Chiến tranh khu vực đã lôi kéo người dân vào những cơn lốc chiến triền miên. Sau thế kỷ XII, khi đánh bại được Chân Lạp, Vương quốc Chăm pa đã chiếm đóng Tây Nguyên trong hơn 300 năm, người dân Kon Tum - Tây Nguyên lại bị người Chăm đô hộ. Do đó họ không có thời gian và điều kiện để ổn định và phát triển theo trật tự một tổ chức xã hội cao hơn. Từ năm 1471 Vua Đại Việt bấy giờ là Lê Thánh Tông sau khi chinh phục xứ Chiêm Thành (vùng đồng bằng ven biển nam Trung bộ) đã thu phục được cư dân các dân tộc ở Tây Nguyên và sáp nhập vùng đất này vào lãnh thổ của Đại Việt. Thời chúa Nguyễn đàng trong (thế kỷ XVI), năm 1540 ông Bùi Tá Hán làm tuần tiết xứ Nam - Ngãi được kiêm quản luôn cả các dân tộc miền núi (Trung Sơn - Tây Nguyên). Thời Tây Sơn trong giai đoạn khởi nghĩa 1771 - 1786 ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã xây dựng mối quan hệ đoàn kết với các dân tộc vùng này, sau khi kéo quân ra Bắc đánh tan giặc Thanh, thống nhất đất nước đã sáp nhập Kon Tum - Tây Nguyên vào đất đai chung của Đại Việt. Thời Triều Nguyễn - Gia Long, Kon Tum - Tây Nguyên vẫn là vùng đất đai trực thuộc lãnh thổ Đại Việt. Năm 1840, dưới thời vua Thiệu Trị, triều đình Huế lập một người địa phương Bana tên là Bok Seam làm quan cai trị các bộ tộc Tây Nguyên. Đồng thời cho phép người Kinh và người các dân tộc được phép tự do quan hệ mua bán trao đổi. Từ đây, những lái buôn người Kinh bắt đầu đến với Tây Nguyền để mua bán trao đổi hàng hóa. Trong thời gian này, người Pháp cũng tìm đường đến với Kon Tum để thực thi công việc truỵền đạo. Trong khoảng thời gian từ 1841 - 1850, thực dân Pháp đã đặt được cơ sở Thiên chúa giáo đầu tiên ở Kon Tum. Năm 1858 quân Pháp mở đầu cuộc xâm lược bằng trận đánh vào Đà Nẵng không thành, sau đó chúng quay vào đánh chiếm Sài Gòn - Gia Định rồi từ đó bành trướng đánh chiếm toàn bộ xứ Nam kỳ. Năm 1867 thực dân Pháp bắt đầu tấn công xâm lược Kon Tum-Tây Nguyên. Bằng những âm mưu thâm độc trong việc chia rẽ giữa các dân tộc trong vùng với nhau... cuối cùng thực dân Pháp cũng đã thôn tính được Kon Tum và Tây Nguyên. Năm 1892 thực dân Pháp đặt ở Kon Tum một tòa đại lý hành chính đầu tiên do một cố đạo người Pháp là Vialleton (Vi an lơ tông) còn gọi là cha Truyền cai quản. Ngày 4.7.1904 thực dân Pháp thành lập tỉnh Plei ku der, bao gồm hai tòa đại lý hành chính: Một tòa Kon Tum trước đó thuộc tỉnh Bình Định và một tòa ở Cheo Reo trước đó thuộc tỉnh Phú Yên. Ngày 25.04.1907 Pháp chính thức bãi bỏ tỉnh Plei Ku der. Toàn bộ đất đai của tỉnh Plei Ku der gồm hai tòa đại lý hành chính Kon Tum và Cheo Reo được sáp nhập trở lại hai tỉnh Bình Định và Phú Yên như ­ trước đó. Ngày 9.02.1913, thực dân Pháp chính thức thành lập tỉnh Kon Tum bao gồm đại lý hành chính Kon Tum tách ra từ Bình Định: đại lý hành chính Cheo Reo tách ra từ Phú Yên và đại lý hành chính Buôn Ma Thuột ( Buôn Ma Thuột trước đó là một tỉnh riêng, nhưng qua năm 1913 giảm tỉnh thành đại lý hành chính sáp nhập với tỉnh Kon Tum). Năm 1917 Pháp thành lập tòa đại lý hành chính An Khê gồm huyện Tân An và khu vực người dân tộc đặt duới quyền cai trị của công sứ tỉnh Kon Tum. Ngày 2.07.1923, đại lý Buôn Ma Thuột được tách ra khỏi tỉnh Kon Tum để thành lập tỉnh Đak Lak. Ngày 03.12.1929, thành lập thị xã Kon Tum (thực tế lúc đó chỉ là thị trấn, gồm tổng Tân Hương và một số làng người dân tộc phụ cận). Ngày 25.05.1932, tách đại lý Plei Ku ra khỏi tỉnh Kon Tum thành lập tỉnh Pleiku (nay thuộc tỉnh Gia Lai). Sau đó đến ngày 09 - 08 - 1943, đại lý hành chính An Khê được tách khỏi tỉnh Kon Tum sáp nhập về tỉnh Pleiku. Từ đó đến năm 1945 tỉnh Kon Tum không còn sự chia tách nữa. Cũng trong thời gian tỉnh Kon Tum thuộc Pháp, bên cạnh bộ máy cai trị của Pháp còn có bộ máy hành chính của chính quyền Nam Triều (Nhà Nguyễn). Hiệu lực của bộ máy Nam Triều phát huy mạnh ở vùng người Kinh. Vùng người dân tộc vẫn chủ yếu tuân theo chế độ chủ làng. Năm 1913 khi tỉnh Kon Tum được thành lập, cũng trong năm đó theo chỉ dụ ngày 26 tháng 05 năm Duy Tân thứ 7, ở Kon Tum có chức quan Nam Tri huyện do một quan người Kinh nắm giữ. Người đầu tiên làm quan tri huyện ở Kon Tum là ông Phan Tử Khâm. Năm 1917, theo chỉ dụ ngày 23 tháng 10 năm Khải Định thứ hai tỉnh Kon Tum được Nhà nước phong kiến Nam Triều lập thành Nam Tri phủ. Theo đó ông Phan Tử Khâm từ chức quan Nam Tri huyện đầu tiên cũng trở thành quan tri phủ thứ nhất tại Kon Tum. Sau ông Phan Tử Khâm, quan tri phủ thứ hai ở Kon Tum là ông Nguyễn Ngọc Hoàng; tiếp đến quan tri phu thứ ba là ông Phan Thúc Ngô và quan tri phủ thứ tư là ông Phùng Duy Cần.Năm 1928, Pháp đặt Kon Tum thành đạo có quản đạo riêng (Nghị định số 168 ngày 20.8.1928 của thực dân Pháp) theo đó quan tri phủ thứ tư là ông Phùng Duy Cần trở thành quan quản đạo thứ nhất ở Kon Tum. Tiếp đó quản đạo thứ hai là ông Hà Thúc Huyến; quản. đạo thứ ba là ông Tôn Thất Toại; quản đạo thứ tư là ông Võ Chuẩn. Năm 1933 sau khi đại lý PleiKu được tách ra khỏi Kon Tum thì đạo Kon Tum còn lại Tổng Tân Hương gồm 10 làng và huyện Tân An có 3 tổng, 29 làng. Năm 1943 đại lý An Khê tách khỏi tỉnh Kon Tum sáp nhập về tỉnh Plei Ku, theo đó toàn bộ đất đai và dân cư của huyện Tân An cũng sáp nhập về Plei Ku (Gia Lai). Tỉnh Kon Tum lúc bấy giờ chỉ còn lại Tổng Tân Hương và toàn bộ đất đai vùng đồng bào dân tộc. Tổng Tân Hương là tên gọi tiền thân của thị xã Kon Tum hiện nay. Tổng Tân Hương là nơi hội tụ của các làng người Kinh bằng nhiều nguyên nhân khác nhau lên lập nghiệp tại tỉnh Kon Tum. Theo thứ tự, các làng của Tổng Tân Hương được thành lập theo thời gian và tên gọi như sau : Sớm nhất là làng Tân Hương ( 1874 ); Phương Nghĩa (1882); Phong Quí (1887); Phương Hòa (1892); Phụng Sơn (1924); Ngô Thạnh (1925); Ngô Trang (1925); Phước Cần (1927); Trung Lương (1914); Lương Khê (1927)... Tháng 8.1945, khởi nghĩa giành chính quyền thành công trên toàn quốc. Ở Kon Tum, ngày 25.8.1945 quần chúng nhân dân hướng theo Việt Minh nổi dậy giành chính quyền thắng lợi. Sau đó chính quyền cách mạng (Việt Minh) tổ chức lại tỉnh Kon Tum thành 4 đơn vị hành chính gồm các huyện Đakglei; Đaktô; Konplong, riêng Kon Tum lập thành thị xã Kon Tum, chính quyền cách mạng lâm thời ở tỉnh Kon Tum được thành lập đóng tại thị xã Kon Tum để lãnh đạo nhân dân bắt tay xây dựng cuộc sống mới. Ngày 26.06.1946 thực dân Pháp tấn công và chiếm lại tỉnh Kon Tum, thiết lập trở lại bộ máy cai trị vùng này. So với trước Cách mạng tháng 8.1945, bộ máy thống trị và chính sách cai trị của Pháp từ tỉnh đến làng cũng không mấy thay đổi : Đứng đầu bộ máy hành chính cấp tỉnh có quyền lực cao nhất là một công sứ người Pháp; bên duới có các huyện thường do các tên đồn trưởng người Pháp nắm giữ rồi. Đến làng, Pháp tập hợp bọn tay sai người địa phương tiếp tục hoạt động phục vụ cho bộ máy cai trị của chúng. Đặc biệt là dụ dỗ, mua chuộc lôi kéo các chủ làng để nắm giữ bộ máy quyền lực ở cơ sở. Về phía cách mạng : Sau khi Pháp tái chiếm Kon Tum, chính quyền cách mạng lâm thời tan rã, tổ chức Đảng bị phân tán thất lạc. Thời gian này, tỉnh Kon Tum chịu sự quản lý chỉ đạo về hành chính của xứ ủy Trung Kỳ và Phân ban vận động quốc dân thiểu số Nam Trung Bộ. Tháng 1.1947 thành lập Phân khu 15 trong đó nòng cốt là tỉnh Kon Tum và các huyện miền tây hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. Trên thực tế hành chính của tỉnh Kom Tum vẫn giữ nguyên nhưng chịu sự quản lý chi phối của Phân khu 15 về các mặt hoạt động quân sự. Tháng 8.1947, Khu 15 Tây Nguyên được thành lập tỉnh Kon Tum là một trong những đơn vị hành chính trực thuộc Khu 15. Tháng 3.1950, theo chủ trương của Liên khu ủy 5, tỉnh Kon Tum và tỉnh Gia Lai được sáp nhập thành tỉnh Gia - Kon. Ban cán sự tỉnh Gia - Kon ra quyết định thành lập bảy khu (huyện). Địa bàn tỉnh Kon Tum tổ chức thành 3 khu : Khu 1 (Đăkglei); Khu 2 (Đăktô); Khu 3 (Konplong). Tháng 10.1951, theo quyết định của Liên khu ủy V, tính Kon Tum và các huyện phía tây Quảng Ngãi hợp nhất thành mặt trận miền Tây. Tháng 2. 1954, Kon Tum là tỉnh đầu tiên và duy nhất ở Tây Nguyên được hoàn toàn giải phóng. Một thời gian sau đó, Mặt trận miền Tây cũng được giải thể. Theo tinh thần hiệp định Giơnevơ được ký kết (20.07.1954) tỉnh Kon Tum bước vào một thời kỳ lịch sử mới. Thời kỳ từ 7.1954 - 3.1975 Về phía địch : Sau khi hiệp định đình chiến Giơnevơ được ký kết (7.1954) Mỹ - Ngụy tiếp quản Kon Tum; một thời gian sau (năm 1958), chúng chia bộ máy hành chính tỉnh Kon Tum gồm : Tòa hành chính Kon Tum - bộ máy hành chính cấp tỉnh, bên dưới gồm các quận: quận Kon Tum; quận Đăktô; quận Konplong; quận Đăksút. Năm 1958 địch thành lập quận Toumơrông, sau đó năm 1959 địch thành lập thêm quận Chương Nghĩa. Sang năm 1960 địch bãi bỏ quận Konplong. Như vậy trên thực tế quận Toumơrông và Chương Nghĩa chiếm trọn diện tích của quận Konplong trước đó. Một phần đất còn lại của quận Konplong không thuộc phạm vi của hai quận mới được sát nhập về quận Kon Tum. Năm 1961, quận"Chương Nghĩa bao gồm phần đất phía đông sông Đăks Nghé giáp với Ba tơ (Quảng Ngãi) địch giao về cho tỉnh Quảng Ngãi. Tỉnh Kon Tum còn lại 4 đơn vị hành chính cấp quận gồm: Kon Tum; Đăktô; Đăksút; Toumơrông. Từ sau năm 1965, phân cấp hành chính của chính quyền Ngụy Sài Gòn tại Kon Tum có sự thay đổi. Đối với các khu vực thị xã, thị trấn đông dân, địch vẫn giữ nguyên cấp quận; những nơi xa xôi, ít dân cư hơn chúng giảm quận mà đặt thành Phái viên hành chính (PVHC). Năm 1970 bộ máy hành chính của địch ngoài tòa hành chính và các ty sở ở tính; bên dưới có các cấp sau : Quận Kon Tum, quận Đăktô, PVHC Đăksút, PVHC Măng Buk, PVHC Chương Nghĩa (quận Chương Nghĩa giao về Quảng Ngãi một thời gian sau đó được nhập về trở lại tỉnh Kon Tum). Năm 1972 địch cải danh chi khu Đăkpét thành quận Đăksút để mở rộng chức năng về mặt hành chính. Sau chiến dịch Xuân - Hè 1972. Ta giải phóng Đăk Tô – Tân Cảnh và đại bộ phận các vùng nông thôn, vùng kiểm soát của địch bị thu hẹp đáng kể; quận lỵ Đăktô của địch phải l­ưu vong về đóng tại đèo Sao Mai (đông nam thị xã Kon Tum); các chi khu Đăkpét; Măng Đen; Măng Búk bị cô lập giữa vùng giải phóng của ta. Địch chỉ còn co cụm phần lớn tại khu vực thị xã Kon Tum. Năm 1974 ta tấn công tiêu diệt hoàn toàn các chi khu Đăkpét, Măng Đen, Măng Buk. Đầu năm 1975 tận dụng thời cơ thắng lợi nổ ra ở Buôn Ma Thuột; ngày 17.03 quân dân trong tỉnh đã nổi dậy tấn công vào đầu não của địch ở nội thị, giải phóng thị xã, giải phóng toàn tỉnh Kon Tum. Về phía ta : - Đầu năm 1955 toàn tỉnh được chia thành 6 khu nông thôn (tương đương huyện) và một thị xã : Khu 1 : Lúc đầu là vùng đông và bắc thị xã Kon Tum, từ bờ sông Pô cô (phía tây) đến bờ sông ĐăksNghé (phía đông). Khu 2 : Bao gồm toàn huyện Konplong ngày nay. Khu 3 : Gồm phía Đăkglei đến vùng Đăkhà (Đăktô) giáp với khu 6 và giáp với huyện Konplong ngày nay. Khu 4 : Là vùng tây huyện Đăkglei từ giáp Quảng Nam đến Đa Nây Pui, phía tây giáp biên giới Lào. Khu 5 : Được hình thành và giải thể trước khi có hiệp định Giơnevơ nên không còn. Một phần khu 5 nhập vào khu 4, phần còn lại nhập vào khu 6. Khu 6 : Từ Vomơna, phía đông giáp Măng Buk đến vùng Kayong giáp biên giới Lào, phía bắc giáp vùng Đăkhà, phía nam đến Konhnông giáp với Võ Định. Khu 7 : Thuộc huyện Sa Thầy hiện nay.- Cuối năm 1956 đầu 1957, do sự thay đổi của tình hình nên có sự sắp xếp lại các khu và chuyển đổi thành huyện :Cắt một phần khu 3 giáp với khu 6 thành khu 8. Cắt một phần nam khu 2 thành khu 9. Sau đó giải thể khu 6, phân lại thành các huyện : + Khu 1 và một phần khu 6 sáp nhập thành huyện H16+ Khu 2 và khu 9 sáp nhập thành huyện H29 . + Khu 3 chuyển thành H30+ Khu 8 và một phần khu 6 sáp nhập thành H80
DU LỊCH KOMTUM
1.Con đường xanh Tây Nguyên Có thể nói, cùng với Con đường di sản miền Trung và Đường Trường Sơn huyền thoại, Con đường xanh Tây Nguyên có thể là một trong những sản phẩm du lịch hấp dẫn của VN trong những năm tớiTổng cục Du lịch đã có chuyến khảo sát các điểm du lịch ở năm tỉnh Tây Nguyên để xây dựng tour du lịch Con đường xanh Tây Nguyên. Đây sẽ là một trong những sản phẩn đặc trưng nhất của khu vực Tây Nguyên nối liền năm tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Con đường này nối các điểm du lịch nổi tiếng của Tây Nguyên, tạo thành một sản phẩm độc đáo, thu hút du khách bởi tính khám phá và mạo hiểm, đặc biệt là đối với những người yêu thích thiên nhiên, yêu vùng đất cao nguyên đầy nắng gió... Theo các nhà khoa học, Con đường xanh Tây Nguyên bắt đầu từ thành phố Đà Nằng theo đường Hồ Chí Minh lên tỉnh Kon Tum. Trên tuyến này, du khách có thể tham quan những khu rừng nguyên sinh bạt ngàn ở phía Bắc Tây Nguyên (Chư Mô Ray, Sa Thầy...), tìm hiểu những nét văn hóa truyền thống của người Bana, Xơ Đăng... đặc biệt là Lễ đâm trâu của người Bana. Tại thị xã Kon Tum, du khách có thể ghé thăm ngục Kon Tum- một di tích lịch sử nổi tiếng trong thời kỳ chống Pháp và Mỹ và các chiến trường xưa Đắc Tô, Tân Cảnh, đồi Charlie, sân bay Phượng Hoàng... Từ Kon Tum, có thể đi thuyền vượt sông sang thủy điện Yaly, Gia Lai. Du khách sẽ được ngắm nhìn mặt hồ Yaly mênh mông giữa núi rừng Tây Nguyên, những con sóng nhấp nhô như đùa giỡn với sương núi, mây trời. Du khách cũng có dịp để ghé thăm Biển Hồ - một khu du lịch nổi tiếng. Tạm biệt bình nguyên Gia Lai, vẫn theo Quốc lộ 14, con đường dẫn về “thủ phủ Tây Nguyên” - TP Buôn Ma Thuột. Thế nhưng, trước khi vào “xứ sở cà phê”, xin quý khách rẽ sang đường 681 dẫn về huyện Ea Súp (Đắk Lắk) để ngắm sông nước, mây trời của công trình thủy lợi Ea Súp Thượng. Đây được xem là “bồn chứa nước” của cả một vùng Ea Súp trù phú. Sau khi bơi thuyền ngắm cảnh du khách sẽ theo Tỉnh lộ 1 trở về Trung tâm Du lịch văn hóa - sinh thái Buôn Đôn, nơi được xem là xứ sở của loài voi châu Á. Tại đây, du khách sẽ được đi dạo trên cầu treo bắc qua dòng Sêrê Pôk tuôn trào dưới rừng cây cổ thụ, được cưỡi voi dạo rừng, vượt suối, ngồi ca-nô băng qua dòng Sêrê Pôk đến Vườn Quốc gia Yok Đôn để ngắm nhìn cái ngút ngàn của núi rừng. Đến Buôn Ma Thuột, chắc chắn du khách sẽ ngỡ ngàng trước sự “thay da đổi thịt” của TP vừa tròn 100 năm tuổi này. Buôn Ma Thuột được xem như một chàng trai đang vươn mình để sớm trở thành trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của khu vực Tây Nguyên. Ở Buôn Ma Thuột, du khách nên dành thời gian để được làm “vua” một lần ở hồ Lăk. Từ biệt điện Bảo Đại nhìn xuống, về phía Nam, du khách có thể thu trọn trung tâm huyện lỵ Lăk trong tầm mắt. Ngoái nhìn phía Tây, một đồng bằng thu nhỏ hiện ra trước mắt với những ruộng lúa xanh ngút chân trời nhìn về phía Nam, gặp ngay hồ Lăk rộng đến trên 500 hécta. Ở hồ Lăk về đêm, du khách sẽ tham dự lễ hội cồng chiêng của người M'nông trong men rượn cần ngây ngất, được thưởng thúc thú ẩm thực của người Tây Nguyên. Từ Buôn Ma Thuật, đi ô tô khoảng 30 cây số là đến thác Gia Long ầm ầm nước đổ, bọt tung trắng xóa giữa rừng cây rậm rạp hay xuôi về vài ki-lô-mét, bạn sẽ gặp thác D'ray Nur - một trong những thác nước đẹp nhất Tây Nguyên - trông như một bức tường nước nối đôi bờ Sêrê Pôk và nối liền hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông. Rời “thủ phủ Tây Nguyên”, du khách sẽ về với Đắk Nông, vùng đất được mệnh danh là “Đà Lạt thứ hai”, với địa hình như chiếc bát úp, đồi núi chập chùng, thông reo đầu gió. Đắk Nông chào đón du khách bằng những tiếng thác vang vọng cả núi rừng, đó là hệ thống thác Đ'ray Sáp - Gia Long - Trinh Nữ đã bao lần níu chân du khách. Tạm biệt Đắk Nông, dọc theo Quốc lộ 28 lên Đà Lạt -thành phố ngàn hoa. Ở Đà Lạt, du khách sẽ có dịp để dạo chơi, thăm thú thung lũng Tình Yêu, hồ Xuân Hương, đồi thông hai mộ, khu du lịch Đan Kia - Suối Vàng, khu du lịch Tuyền Lâm... và nếu thích mạo hiểm, hãy thử một lần chinh phục đỉnh Langbiang hùng vĩ. Và Con đường xanh Tây Nguyên kết thúc ở thành phố mộng mơ này. Theo các nhà hoạch định, Con đường xanh Tây Nguyên có thể bắt đầu từ Đà Nẵng lên Kon Tum và kết thúc ở Đà Lạt nếu bạn là những du khách thích khám phá đến từ miền Bắc và miền Trung; còn nếu bạn là những du khách đến từ các tỉnh phía Nam, hãy bắt đầu chuyến khám phá của mình từ TPHCM lên Đà Lạt theo tuyến ngược lại và sẽ kết thúc ở Kon Tum.
2.Di tích chiến thắng Ðăktô-Tân Cảnh Ngày nay, đi qua căn cứ E42 ĐăkTô - Tân Cảnh ngày xưa, du khách thấy sừng sững một bia tưởng niệm về chiến tích anh hùng của quân dân ta thời chống giặc cứu nước. Gần đây, tỉnh đã đầu tư xây dựng cụm tượng đài chiến thắng ĐăkTô - Tân Cảnh rất hùng tráng. Bên cạnh tượng đài là hai chiếc xe tăng cách mạng đã từng tham gia trận đánh năm 1972. Khu di tích đã được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia (1993). Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Đăktô - Tân Cảnh là căn cứ quân sự mạnh nhất của Ngụy quyền Sài Gòn ở Bắc Tây Nguyên. Đầu năm 1972, ở đây có: 28 tiểu đoàn bộ binh, 6 tiểu doàn pháo binh. 4 tiểu đoàn thiết giáp. Phần lớn lực lượng được bố trí ở dãy cao điểm phía Tây sông Pôcô, hình thành tuyến phòng ngự lâm thời từ xa. Về lực lượng quân đội ta, gồm các trung đoàn chủ lực của Tây Nguyên: 28, 66, 95, 24B (Sư đoàn 10 - Đoàn Đăktô ngày nay) phối hợp với bộ đội địa phương tỉnh Kontum. Đúng 15 giờ ngày 23-4-1972, pháo binh ta nã đạn dồn dập vào căn cứ Tân Cảnh, cứ điểm mạnh nhất của địch. 1 giờ sáng 24-4-1972 xe tăng T54 xông thẳng qua thị trấn Tân Cảnh, lao lên mở cửa phía Đông căn cứ Tân Cảnh. Chớp thời cơ địch còn hoảng sợ khi thấy xe tăng ta, tiểu đoàn 9 cùng đội công tác tỉnh Kontum kêu gọi nhân dân nổi dậy. 5 giờ 55 phút ngày 24-4-1972 thị trấn Tân Cảnh được giải phóng. Lúc này cuộc chiến đấu ở căn cứ E42 Tân Cảnh diễn ra dữ dội. Xe tăng T54 - 377 của ta đã tiêu diệt 7 xe tăng địch. Quân ta dần dần làm chủ tình hình. 11 giờ trưa 24-4-1972, trung đoàn 66 của ta hoàn toàn làm chủ căn cứ Tân Cảnh. Quân ta bắn rơi 8 máy bay, thu 9 xe tăng, 20 pháo 105 ly, gần 100 xe quân sự, hàng vạn quả pháo và toàn bộ phương tiện chiến tranh của địch, bắt 429 tù binh ngụy. Ngay khi Tân Cảnh sắp bị tiêu diệt, Bộ Tư lệnh quân giải phóng mặt trận cánh Đông đã cho pháo binh bắn phá căn cứ ĐăkTô 2 (sân bay Phượng Hoàng). 8 giờ sáng 24-4-1972, E1 (F2) đánh thẳng vào Sở Chỉ huy E47 ngay ở sân bay Phượng Hoàng, 4 xe tăng T54 và một pháo tự hành cấp tốc rời căn cứ Tân Cảnh chi viện cho mũi tấn công tại căn cứ ĐăkTô 2. Sức kháng cự của E47 ngụy nhanh chóng bị đè bẹp, quân ta làm chủ căn cứ Đăktô 2. Cụm phòng ngự mạnh của địch ở căn cứ Tân Cảnh - ĐăkTô 2 bị tiêu diệt. Quân địch đóng ở các căn cứ NgokBờ lêng, NgokRinh Rua, Tri Lễ, quận ĐăkTô, rút chạy toán loạn. Một vùng đất từ Diên Bình, qua Tân Cảnh đến ĐăkTô, về ĐăkMot và hàng chục ngàn đồng bào các dân tộc Kontum được giải phóng. Ngày nay, đi qua căn cứ E42 ĐăkTô - Tân Cảnh ngày xưa, du khách thấy sừng sững một bia tưởng niệm về chiến tích anh hùng của quân dân ta thời chống giặc cứu nước. Gần đây, tỉnh đã đầu tư xây dựng cụm tượng đài chiến thắng ĐăkTô - Tân Cảnh rất hùng tráng. Bên cạnh tượng đài là hai chiếc xe tăng cách mạng đã từng tham gia trận đánh năm 1972. Khu di tích đã được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia (1993).
3.Làng Ba Na
Vị trí: Ở Tây Nguyên thuộc tỉnh Kon Tum.Đặc điểm: Làng Ba Na là những nếp nhà sàn dựng trên nền đất hình vuông hay hình chữ nhật, cầu thang lên nhà thường là một thân cây gỗ, đục đẽo thành nhiều bậc khá công phu. Dân tộc Ba Na là một trong ba dân tộc bản địa đông người nhất ở Tây Nguyên, họ sống nhiều nhất ở tỉnh Kon Tum. Ba Na Kon Tum là tên cộng đồng người Ba Na tập trung ở thị xã Kon Tum. Theo tiếng Ba Na thì Kon nghĩa là làng, Tum nghĩa là hồ, ao. Kon Tum là làng có nhiều ao, hồ. Đến thăm làng Ba Na, du khách sẽ nhìn thấy những nếp nhà sàn dựng trên nền đất hình vuông hay hình chữ nhật, cầu thang lên nhà thường là một thân cây gỗ, đục đẽo thành nhiều bậc khá công phu. Người Ba Na là dân tộc đầu tiên ở Tây Nguyên biết dùng chữ viết trong đời sống và dùng trâu bò để cày ruộng. Tuy nhiên họ cũng chưa biết tổ chức cuộc sống khoa học, gạo chỉ giã đủ ăn từng ngày. Trước đây người Ba Na có truyền thống săn bắn giỏi, tới gia đình nào bạn cũng có thể nhìn thấy có vài cái nỏ bằng gỗ rất chắc. Cũng như nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên, giữa sàn nhà người Ba Na là bếp lửa luôn luôn đỏ than. Bếp cũng là trung tâm sinh hoạt của mọi thành viên trong gia đình. Ðàn ông Ba Na thường có vết sẹo ở ngực. Ðó là vết tích do họ tự gây nên bằng cách lấy lửa hoặc than hồng dí vào ngực khi trong nhà có người chết, để tỏ lòng thương tiếc người quá cố.
4.Nhà mồ Tây Nguyên
Vị trí: Nhà mồ Tây Nguyên có ở hầu hết các tỉnh Tây Nguyên.Đặc điểm: Nhà mồ Tây Nguyên được xây cất theo phong tục tang lễ ở vùng Tây Nguyên, lúc đầu là chòi nhỏ sơ sài, sau đó một hoặc vài ba năm thân nhân gia đình người chết dựng lại nhà mồ mới khang trang, trang trí nhiều tượng gỗ.Theo phong tục tang lễ của một số tộc người ở vùng Tây Nguyên, sau khi chôn người chết, người ta làm một chòi nhỏ sơ sài trên nấm mộ để che mưa che nắng cho người chết. Trong chòi thường đặt một số đồ dùng của người đã khuất. Sau đó một hoặc vài ba năm, thân nhân gia đình người chết phá nhà mồ cũ, dựng nhà mồ mới khang trang hơn, kiên cố hơn, trang trí tượng gỗ, có hàng rào xung quanh nhà mồ. Tục phá chòi, dựng nhà mồ mới của một số tộc người ở Tây Nguyên thường được tổ chức vào mùa xuân (mùa khô) và được coi như một lễ hội lớn (lễ bỏ mả) của dân bản. Người ta đưa đến nghĩa địa rượu, thịt, cá, các vật cúng tế. Thân nhân người quá cố và dân bản cùng vui mừng, ăn uống, nhảy múa trong một hay nhiều ngày bên nhà mồ để chia biệt vĩnh viễn người quá cố. Tục bỏ nhà mồ theo quan niệm sau sự kiện này thì người sống hết trách nhiệm trông nom, thờ cúng cho người quá cố và được giải thoát mọi giàng buộc, nếu còn trẻ có thể lấy vợ (hoặc chồng) khác; còn người quá cố sẽ được đầu thai sang kiếp khác…
5.Nhà thờ gỗ KontumS

MĂNG ĐEN


Măng Đen - Vùng đất hữu tình
Đến Măng Đen (Kon Tum), dù chỉ một lần thôi, bạn sẽ khó lòng quên được một vùng đất sinh cảnh hữu tình, những ngọn đồi nối tiếp nhau bên cạnh rừng thông bạt ngàn ở độ cao 1.200 - 1.300 mét. Dòng sông Đắk Sơ Nghé chảy ngang qua trung tâm huyện lỵ Kon Plông cùng các suối, hồ, thác nước tạo nên một vùng du lịch sinh thái lý tưởng của thiên nhiên ban cho.
Từ lâu đời, các dân tộc thiểu số Mơ Năm, Ca Dong, H"Re... đã sinh sống quanh vùng cao Măng Đen này, đang bảo tồn những giá trị truyền thống đầy sắc màu văn hóa bản địa. Giữa một huyện vùng cao có độ phủ xanh 85%, trên đường khám phá vẻ đẹp lồng lộng của thiên nhiên, bất chợt bạn sẽ thấy một ngôi làng dân tộc thiểu số tọa lạc êm đềm bên lòng hồ, suối thác hoặc dòng sông. Làng với những căn nhà sàn nguyên sơ nương tựa rừng cây, có bến nước, nương rẫy kề cạnh và ngôi nhà rông truyền thống thỉnh thoảng ngân vang nhịp điệu cồng chiêng chất chứa tình cảm thiêng liêng của cộng đồng.
Đến Măng Đen, du khách dễ nhận ra một vùng khí hậu mát mẻ như ở Đà Lạt. Nét mới lạ lung linh ở Măng Đen là sự tươi tốt vẹn nguyên, không bị bàn tay con người thô bạo can thiệp vào. Hơn 4.000 ha rừng thông thanh thản nằm đan cài giữa vùng rừng nguyên sinh trùng điệp rộng hơn 100.000 ha, cùng với sông hồ và suối thác đã tạo Măng Đen thành nơi du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng lý tưởng. Huyện Kon Lông và tỉnh Kon Tum đang từng bước khéo léo giữ gìn và thêm thắt sao cho Măng Đen trở thành khu du lịch sinh thái văn hóa, xứng đáng là điểm khởi đầu của tuyến du lịch "Con đường xanh Tây Nguyên".
Hiện nay, du khách yêu văn hóa thiên nhiên từ các tỉnh Tây Nguyên và trong nước đã dần dần đến với Măng Đen. Bước đầu đã có những biệt thự mang kiểu dáng khác nhau được xây dựng trong rừng thông bên đường không xa suối, thác, sông, hồ là bao. Từ thị xã Kon Tum, đi theo Quốc lộ 24 thấp thoáng hai bên đường những núi đồi, rừng cây và sông nước chỉ 1 tiếng đồng hồ ngồi trên ô tô là đến khu du lịch sinh thái văn hóa Măng Đen. Từ nơi này, xuôi theo Quốc lộ 24 trên đường về vùng duyên hải, còn 70 km là tiếp giáp Quảng Ngãi, quê hương của núi Ấn sông Trà và những cánh đồng ruộng mía bao la.
Măng Đen - "Đà Lạt của Kom Tum"
Măng Đen - "Đà Lạt của Kon Tum" vẫn còn giữ được vẻ đẹp hoang sơ hiếm có với phong cảnh núi rừng, hồ, thác... Nằm ở độ cao 1.100 - 1.400m so với mặt biển, cách thị xã Kon Tum hơn 50km, giữa ngút ngàn thông và hoa rừng, Măng Đen lúc nào cũng se se lạnh và tĩnh lặng giữa đại ngàn...
Được coi là "Đà Lạt của Kon Tum", Măng Đen theo tiếng bà con dân tộc M"Nâm nơi đây có nghĩa là chỗ đất bằng phẳng ("măng" là bãi bằng, đất bằng; "đeng" - chứ không phải "đen" - là chỗ ở!). Trên bình nguyên Măng Đen có nhiều "toong" (hồ) như toong Đăm, toong Ki, toong Lung..., nhiều "cơi" (thác) như Tram, Pa Sĩ, Đăk Ke... tung bọt trắng xóa giữa núi rừng trầm mặc khiến Măng Đen càng thêm thơ mộng và huyền hoặc.
Nếu lấy trung tâm huyện Kon Plông làm tâm điểm thì các hồ, thác ở đây đều nằm trong vòng bán kính 10km trở lại, có nghĩa là khá tập trung để vui chơi thưởng ngoạn. Đặc biệt là hồ Đăm rộng khoảng 2ha, cách sân bay Măng Đen chừng 500m, vào mùa khô hoa mua, hoa sim nở tím ven hồ. Xung quanh hồ là rừng thông, lá thông trải một lớp thảm dày 10-15cm mượt mà như nhung. Hồ Lung rộng khoảng hơn 1ha, xung quanh còn những thân cây cổ thụ hai, ba người ôm không xuể, rừng ven hồ có rất nhiều phong lan.
Măng Đen hiện vẫn còn giữ được vẻ đẹp ban sơ hiếm có.
Hấp dẫn Măng Đen
Khu du lịch Măng Đen cách thị xã KonTum hơn 50km, ở độ cao khoảng 1.300m, trên đỉnh Trường Sơn hùng tráng, đông nắng tây mưa.
Muốn đến Măng Đen (tiếng bản địa là vùng đất rộng lớn, bằng phẳng; thuộc huyện vùng núi cao Kon Plong), từ Kontum phải qua đèo Măng Đen, còn Quảng Ngãi phải vượt đèo Violăk ngoạn mục, chập chùng hai bên là bạt ngàn rừng thông khiến du khách có cảm giác như đang ở xứ Đà Lạt mộng mơ.
Chẳng vậy mà vùng du lịch sinh thái này còn được gọi là “Đà Lạt thứ hai” của Tây nguyên. Nằm giữa hai đèo Violăk và Măng Đen, nơi đây được hưởng khí hậu giao thoa của đông và tây Trường Sơn nên ôn hòa, mát mẻ quanh năm, nhiệt độ không bao giờ cao quá 20OC. Rừng Kon Plong diện tích 136.000ha, độ che phủ trên 65% hiếm nơi nào ở VN có được. Rừng còn đậm nét hoang sơ, bí ẩn và phong phú với nhiều loại gỗ quí và các loại thảo quả, dược liệu... Ngày trước người Pháp từng có ý định xây dựng nơi đây thành khu nghỉ mát, an dưỡng, còn bây giờ Măng Đen vừa được Tổng cục Du lịch đưa vào chiến lược qui hoạch phát triển du lịch VN giai đoạn 2006-2010.
Thác Đăk Ke ngày đêm tung bọt trắng xóaMăng Đen có được điều kiện tự nhiên lý tưởng như thế nên hiện nay người ta trồng ở đây các loại rau xanh và hoa xứ lạnh, triển vọng rất lớn. Suối ở Măng Đen có loài cá chình, cá niên thơm ngon nổi tiếng. Con sông Ba, chảy qua ba tỉnh Kontum, Gia Lai và Phú Yên, bắt nguồn từ Kon Plong, là một nguồn sống của các cộng đồng người dân tộc bản địa trong vùng.
Nằm dưới tán thông reo là những hồ nước rộng mênh mông mà người dân địa phương gọi là “toong”, như các toong Đăm, Ki, Lung, Ly Leng, Pô, Jơri, Săng, Rpoong... Vào mùa khô, hoa mua, hoa sim, phong lan nở tím ven bờ hồ, xung quanh lá thông trải một lớp thảm dày mượt như nhung. Măng Đen còn có nhiều “cơi” (thác) như cơi Tram, Pa Sĩ, Đăk Ke... ngày đêm tung bọt trắng xóa giữa núi rừng thơ mộng và huyền ảo. Đây quả là một nơi thích hợp cho du lịch nghỉ dưỡng.Măng Đen đang là điểm đến lý tưởng của du khách thập phương. Một nhà thơ khi đến thưởng ngoạn thắng cảnh Măng Đen huyền ảo đã cảm tác:
".....Măng Đen chiều se lạnh
Nắng vàng vội vã đi đâu
Sương giăng mờ khắp lối
Đồi thông khói đá lửng lờ
Chiều Măng Đen suối ngàn xa vọng lại
Cơn gió nô đùa trên những cành lan
Bên thảm cỏ non chú nai vàng say giấc
Măng Đen ơi ai dệt mây tranh”...
MĂNG ĐEN – Chiến công xưa và sự vươn mình thức giấc hôm nay
Măng Đen là tên một địa danh mà người Kinh gọi chệch từ tên T’măng Deeng của người Mơ Nâm, có nghĩa là vùng đất bằng phẳng và rộng lớn. Với độ cao trên 1.200m so với mực nước biển, Măng Đen là điểm phân thủy Đông-Tây Trường Sơn. Thế nên, khi ta ở trên đỉnh đèo Măng Đen vào khoảng những tháng 6,7 và 11, 12 ta có thể thấy ở thung lũng sườn Đông nắng vàng rực rỡ, phía thung lũng sườn Tây mây mù bao phủ trắng xóa, còn ở Măng Đen thì trời sáng sủa, gió se lạnh, khiến cho ta cảm giác lâng lâng.
Ai đã một lần đến cao nguyên Măng Đen (huyện Kon Plông) trong những ngày cuối đông, nếu không ngủ qua đêm thì không thể tắm mình trong “biệt dược” của thiên nhiên ban tặng. Măng Đen tuyệt đẹp. Phố núi mới hình thành vẫn mặc nguyên “chiếc áo” của cao nguyên hoang sơ, nên mới non tháng chạp đã nghe se se gió mỗi sớm mai thức giấc. Một đêm ở lại Măng Đen trong khách sạn Hưng Yên tráng lệ, lại bâng khuâng nhớ về công ơn các bậc tiền nhân đã đổ máu đào để mảnh đất này lên xanh những mầm sống mới.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Kon Plông, trong đó có Măng Đen được xây dựng thành vùng căn cứ cách mạng của Khu 5 và của tỉnh. Vì vậy, Mỹ-ngụy đã tập trung xây dựng tại đây các cứ điểm quân sự vững chắc, bao gồm khu vực đèo Măng Đen, Măng Buk, đồn Kon Plông và hệ thống đồn bốt dọc Quốc lộ 24, tạo thành cụm cứ điểm trấn ải phía cực Bắc Tây Nguyên, hòng uy hiếp phong trào cách mạng ở tỉnh Kon Tum. Trong đó, Măng Đen được Mỹ xây dựng thành cảng hàng không quan trọng để yểm trợ toàn bộ hệ thống cứ điểm trên địa bàn huyện Kon Plông. Đặc biệt, năm 1974, tại Măng Đen, địch duy trì bộ máy hành chính quận lỵ Chương Nghĩa. Trong thế co cụm phòng ngự, chúng chia lực lượng thành 2 khu đóng giữ sát sân bay Măng Đen và tổ chức 6 trung đội dân vệ chốt giữ các ấp. Trước thực lực cách mạng ngày càng lớn mạnh ở vùng căn cứ kháng chiến, địch ra sức giành dân với ta ở vùng Kon Leng, Kô Chất. Lúc này, Đảng bộ H29 và H16 nhận định: “Địch đã đi vào thế suy yếu, chỉ lo phòng giữ, cố thủ là chính”. Từ đó, Đảng bộ chỉ đạo cán bộ và quân dân nắm vững phương châm: “Tấn công trong xây dựng, chuyển mạnh phong trào cách mạng ra tuyến trước, giữ vững tinh thần ý chí tiến công, tạo thế vây ép địch và sẵn sàng tiêu diệt chúng khi có thời cơ”. Đến giữa năm 1974, sau khi phân tích, đánh giá kỹ lưỡng tình hình, Tỉnh ủy và Bộ Tư lệnh B3 đã chủ trương tấn công tiêu diệt các cứ điểm của địch nhằm mở rộng vùng giải phóng, tạo đà tiến về vùng tạm chiếm ở thị xã Kon Tum.
Trước sức mạnh tấn công như vũ bão của lực lượng vũ trang H16, H29, cùng bộ đội chủ lực Trung đoàn 28 (đoàn Đăk Tô) và một số binh chủng kỹ thuật của ta, ngày 30-10-1974, toàn bộ Ban chỉ huy Tiểu khu Kon Tum, Ban chỉ huy Tiểu khu Chương Nghĩa và Ban chỉ huy Tiểu đoàn Bảo an 254 của Ngụy đã bị quân ta vô hiệu hóa, tiêu diệt 226 tên địch, thu 539 khẩu súng các loại, 2 khẩu pháo 105 ly, 33 máy vô tuyến điện... Cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên các nẻo đường. Hơn 2 ngàn dân bị địch kìm kẹp được hoàn toàn giải phóng. Chiến thắng Măng Đen đã góp phần mở rộng vùng giải phóng đến sát thị xã Kon Tum, tạo thế và lực mới cho Chiến dịch Tây Nguyên, mở đường giải phóng Sài Gòn, kết thúc thắng lợi Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Với những đóng góp to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngày 22-6-2000, Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin Nguyễn Khoa Điềm đã ký quyết định công nhận “Di tích lịch sử cách mạng Măng Đen”. Đến tháng 10-2005, huyện Kon Plông đã vinh dự đón nhận danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Hôm nay, đi dọc Quốc lộ 24 đoạn ngang qua đỉnh đèo Măng Đen, chúng ta không còn ngạc nhiên khi nhìn thấy những ngôi biệt thự xinh xắn nằm dưới tán thông đang độ sung mãn. Tiềm năng du lịch nghỉ dưỡng sẽ là động lực để Măng Đen cất cánh bay lên, nối Kon Tum gần lại với đồng bằng. Đồng chí Võ Xuân Truyền - Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Kon Plông cho biết: Qua 5 năm tái lập, cán bộ và nhân dân huyện Kon Plông đã đạt được những thành tựu rất đáng tự hào. Đến nay, Măng Đen đã có 25 dự án đăng ký đầu tư, 19 công trình thủy điện và đã tiến hành khởi công xây dựng 90/121 ngôi biệt thự. Trong đó nổi bật nhất là Khu khách sạn ven hồ Đăk Ke rộng 5 ha, do Công ty Cổ phần Hưng Yên làm chủ đầu tư, đã tạo một điểm nhấn quan trọng trong hệ thống các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng ở Măng Đen. Tại đây, các khách sạn mi ni, nhà tháp kết hợp dịch vụ ăn uống, giải khát, ngắm cảnh, hệ thống nhà hàng siêu thị, karaôkê, massa, sân quần vợt, bể bơi… rồi sẽ xây dựng lên, tạo cho Măng Đen trở thành “Đà Lạt thứ hai” trên cao nguyên Kon Tum trong lành và ấm áp. Còn nữa, Công ty Cổ phần Sài Gòn-Măng Đen sẽ xây dựng khu du lịch sinh thái với 42 biệt thự và khách sạn 4 sao có sân gôn 18 lỗ, kết hợp nuôi thú rừng tự nhiên, với diện tích 500 ha. Ngoài ra, Dự án Khu du lịch Măng Đen Sfari với du lịch thác, hồ và nuôi thú để săn bắn trên diện tích 460 ha đã được lập xong. Công ty Thành Bưởi (thành phố Hồ Chí Minh) đầu tư rau hoa xứ lạnh. Đặc biệt, Dự án Khu du lịch và nhà nghỉ cao cấp hồ trung tâm-sân gôn của Công ty cổ phần Vinashin miền Trung liên kết cùng Ngân hàng Thương mại-Tài chính Dầu khí toàn cầu, Công ty cổ phần sân gôn Ngôi Sao Chí Linh, Công ty Cổ phần Du lịch-Thương mại và đầu tư Thủ Đô, Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng Thành Trung… sẽ xây dựng trên diện tích 680 ha, với các lĩnh vực như: du lịch sinh thái hỗn hợp cao cấp, nhà biệt thự cao cấp, cải tạo sân bay Măng Đen và khu sân gôn 36 lỗ. Những dự án lớn ấy đã khẳng định trong nay mai, Măng Đen sẽ là điểm hẹn lý tưởng của du khách thập phương và xứng đáng trở thành 1 trong 3 vùng động lực phát triển kinh tế của tỉnh Kon Tum...

Thứ Năm, 25 tháng 9, 2008

KHU DU LỊCH ĐẠI NAM

ĐẠI NAM - THẾ GIỚI DU LỊCH







Với 261ha xây dựng của giai đoạn 1, sau khi hoàn tất diện tích tổng thể của toàn khuôn viên là 450ha, Khu Văn hóa Lịch sử Đại Nam với đủ cả biển, hồ, sông, núi và trường thành, toát lên vẻ đẹp toàn mỹ của SƠN HÀ XÃ TẮC. Khu Văn hóa – lịch sử Đại Nam nhằm mục đích giữ lại cho các thế hệ sau hiểu biết về truyền thống hào hùng của dân tộc trong công cuộc dựng nước và giữ nước, cũng như quá trình hình thành đất nước Việt Nam từ ngàn xưa đến nay.
Nằm cách Thị Xã Thủ Dầu Một hơn 10 km về phía Bắc đó là khu Du lịch Văn Hóa Lịch Sử Đại Nam. Thu nắng vàng, Đại Nam khoác lên mình màu xanh bát ngát của cỏ cây, sông nước, hòa vào bầu không khí trong lành để chào đón du khách. Tổng thể của khu du lịch dài 13km là một công trình tôn vinh và vọng ngưỡng văn hóa Việt Nam từ xưa đến nay, nó làm toát lên sự hùng vĩ của sơn hà xã tắc, thể hiện phần nào sự giàu đẹp, phong phú của toàn cõi Việt Nam từ Bắc chí Nam. Bước vào cổng đền thơ, du khách bắt gặp ngay 4 câu tuyên ngôn bất hủ của Lý Thường Kiệt, những câu thơ khiến cho du khách nhớ về hào khí đấu tranh anh hùng của dân tộc. Đại Nam thế giới du lịch có đủ cả biển, hồ, sông, núi và trường thành. Đại Nam còn hấp dẫn với nhiều trò chơi hiện đại, phong phú, hứa hẹn mang đến nhiều cảm giác mới lạ và thật ấn tượng. Từ ý tưởng thể hiện vẻ đẹp đặc thù về thiên nhiên cũng như phản ánh những thành tựu nổi bật của 64 tỉnh thành trên cả nước, công trình đất nước Việt Nam thu nhỏ thông qua 64 ngôi nhà đặc trưng của mỗi tỉnh thành sẽ thể hiện phần nào sự giàu đẹp, phong phú của toàn cõi Việt Nam. Hiện ra trước mắt là đền thờ Đại Nam Quốc Tự. Trên diện tích 711 ha, Đại Nam Quốc Tự là công trình kiến trúc trọng điểm, được chia làm 2 tầng. Tầng trên là nơi thờ cúng tổ tiên đất nước và tầng dưới là bảo tàng trưng bày hiện vật truyền thống của lịch sử dân tộc. Đại Nam Quốc Tự có lối kiến trúc khá đặc biệt để người vào đền có cảm giác như ở cõi niết bàn với những bộ cánh cửa có chạm trổ 28 câu chuyện lịch sử tiêu biểu nhất thể hiện hào khí đấu tranh anh hùng của dân tộc nước Đại Việt. Bắt đầu từ cửa chính đi vào là câu chuyện Hai Bà Trưng cưỡi voi đánh giặc oai phong lẫm liệt, kế tiếp là 27 câu chuyện với các mốc son lịch sử trải qua các đời Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê và Triều Nguyễn. Sau lớp cửa là một mảng sáng lung linh được tạo nên bởi ánh sáng thiên nhiên chiếu xuyên vào trở nên tinh khiết đến tuyệt vời. Đền thờ được kiến trúc theo mô tuýp Vuông-Tròn. Hình tròn trên nóc nền biểu trưng cho trời và hình vuông 4 cạnh đền biểu trưng của Đất, có ý nghĩa hòa quyện muôn đời của Đất và Trời. Đền thờ Đại Nam quốc Tự còn gọi là Đền Thờ Tứ Ân với mỗi một con người sinh ra và lớn lên đều mang nặng 4 ân đức lớn, đó là: Ơn Đấng tạo hóa có thờ Đức Phật Tổ; ơn Tổ Quốc có thờ mẹ Âu Cơ, Vua Hùng và Bác Hồ; ơn Đồng bào, dân tộc có thờ Bách gia trăm họ – Cửu huyền thất tổ của 1024 giòng họ. Ơn Tông đường có thờ cửu huyền thất tổ – Tứ đại đồng đường của các giòng họ sáng lập và xây dựng khu du lịch Đại Nam. Đó là nét đặc trưng và tiêu biểu mà Đại Nam đã làm là thể hiện lòng kính trọng đối với những người khai sinh ra con người và đất Việt. Đền thờ thiết kế theo kiến trúc đời nhà Lý, và chịu ảnh hưởng sâu đậm triết lí nhà phật, tất cả hình ảnh trang trí trong đền đều là vẻ đẹp quy tụ của tứ linh là Long – Lân - Quy – Phụng, tứ quý là Mai – Lan – Cúc – Trúc, và đặc biệt là tôn vinh vẻ đẹp thuần khiết, thanh cao của Hoa Sen, tượng trưng cho một tâm hồn thánh thiện. Đến với Đại Nam Quốc Tự mỗi du khách đều thấy được vẻ đẹp tráng lệ, uy nghi của ngôi đền, rũ bỏ những lớp bụi trần và cảm thấy tinh thần thêm thanh thoát. Bao quanh đền thờ Đại Nam Quốc Tự là dòng Bảo Giang thơ mộng được trang trí bằng nhiều loại cây cảnh với một màu xanh mát điểm thêm những chùm hoa đầy màu sắc tạo cho du khách cảm giác như lạc vào chốn thần tiên giữa núi non sông hồ của Tiền Sơn- Hậu Thủy. Những kiến trúc đơn giản, tinh tế nằm hiền hòa sau rặng cây xanh mướt tốt tươi và muôn ngàn sắc hoa bừng sáng từng lối đi, từng ngóc ngách. Tất cả hài hòa, thung dung gắn kết vào nhau, tưởng chừng có thể cảm thấy mạch sống trong lòng đất rạo rực chảy trên từng thân cây, ứ đọng lại từng ngọn lá, nụ hoa và dạt dào theo dòng nước quanh co, len lỏi. Đi dọc theo dòng Bảo Giang là con đường nhỏ, những cây cỏ mịn màng như tấm thảm dày toả sáng dưới chân đi. Du khách đơn độc có thể say sưa, mơ màng như lạc vào cõi lạ. Những bông hoa nhỏ cứ thổn thức chuyển mình thẫm đỏ, như khao khát chào đón du khách, mênh mang, mênh mang…. Nằm sau lưng Đại Nam Quốc Tự là Bảo Sơn và Bảo Tháp. Dãy núi dài 250m, Bảo Sơn được xây dựng với 5 ngọn núi liền kề nhau thể hiện sự kết tụ 5 nguyên tố cấu tạo thành vũ trụ: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Trên bề mặt của sườn núi từ chân núi lên tới đỉnh núi là sự kết hợp hài hòa của cây cỏ và nhiều hoa lá tạo cho Bảo Sơn có vẻ đẹp thiên nhiên, hùng vĩ. Đặc biệt trong lòng núi là khoảng diện tích đất rộng trải dài từ cửa vào đến cửa ra. Theo đường đi trong lòng núi là hình ảnh trang trí về những câu chuyện lịch sử tái hiện từ thời Vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh. Những câu chuyện lịch sử đó nhắc nhở con cháu nhớ về cội nguồn, nhớ sự hào hùng của cha ông với tinh thần bất diệt của dân tộc. Nằm chính giữa dãy núi Bảo Sơn là ngọn núi Thủy Sơn, và cũng tại ngọn núi này, dựa lưng vào dãy núi là vị trí của toà tháp 9 tầng uy nghi với tên gọi là Bảo Tháp. Bảo Tháp là công trình kiến trúc trọng điểm trong khu Bảo Sơn, công trình này mang dáng vẻ uy nghi, cổ kính, tháp được xây dựng theo hình bát giáp đều nên càng lên cao thì diện tích tháp càng nhỏ lại. Với lối kiến trúc sơn son thếp vàng được trang trí theo vẻ đẹp quần tụ của tứ quý từ tầng một lên tầng 4, tứ linh từ tầng 5 lên tầng 8 và tầng 9 trang trí hình ảnh của Hoa Sen, Bảo Tháp là nơi thờ phượng tâm linh với 9 tầng tháp mang 9 ý nghĩa thờ phượng khác nhau. Tầng thứ nhất thờ Vong linh anh hùng liệt sĩ Việt Nam; tầng thứ 2 là nơi tri ân chiến sĩ vô danh vì đất nước quên thân; tầng thứ 3 thờ Chủ Tịch Hồ Chí Minh; tầng thứ 4 thờ Đức thánh vương Trần Hưng Đạo; tầng thứ 5 thờ các chủ vị nữ tướng; tầng thứ 6 thờ những vị có công với nước được phong thần; tầng thứ 7 thờ 18 thời Vua Hùng; tầng thứ 8 thờ Tam cõi hội đồng; tầng thứ 9 thờ Tổ Quốc. Chính vì lẽ đó mà Bảo Tháp được xây dựng mang ý nghĩa giáo dục cho con cháu hiểu được quá trình dựng nước, giữ nước của ông cha, và qua nén hương thơm để con cháu tưởng nhớ đến công lao của những người đã khuất. Đi qua dãy núi Bảo Sơn và Bảo Tháp mỗi chúng ta như cảm nhận được sự hào hùng, oanh liệt từng trang sử hiện lên qua các cuộc đấu tranh giữ gìn đất nước mà cha ông ta đã dày công xây dựng. Đến với Đại Nam – Thế giới du lịch sẽ là điểm hẹn hấp dẫn của tất cả khách tham quan trong nước cũng như nước ngoài. Đại Nam hứa hẹn mang đến nhiều cảm giác mới lạ và thật ấn tượng, cho du khách một món ăn tinh thần đó là sự tôn vinh và vọng ngưỡng của văn hóa Việt. Đại Nam, một trong những biểu tượng du lịch văn hóa mới của Bình Dương.
Tháp chín tầng :
Dựa lưng vào dãy Ngũ Hành Sơn, nhìn ra hướng Đông Nam là Ngôi tháp Chín tầng hay còn gọi là Cửu Trùng Đài. Đây là nơi thờ phượng tâm linh và tinh thần bất diệt của dân tộc Việt Nam thể hiện sự tôn vinh của thế hệ sau đối với tổ tiên và tiền nhân. Công trình này được thể hiện bằng nghệ thuật điêu khắc và chạm trổ truyền thống của nghệ nhân miền Trung.
Mô hình đất nước Việt Nam:
Với ý tưởng thể hiện 64 tỉnh thành trên cả nước với diện tích rộng hơn 30ha. Mô hình Đất nước Việt Nam sẽ cống hiến đến du khách những hình ảnh đặc thù nói lên thổ nhưỡng, thắng tích và tập quán của từng tỉnh thành phản ánh phần nào sự giàu đẹp, phong phú của toàn cõi Việt Nam từ Bắc chí Nam. Đặc biệt, lồng theo mô hình 64 tỉnh thành, du khách sẽ tiếp cận với những hình ảnh cô đọng giới thiệu về 54 dân tộc Việt Nam suốt từ Bắc chí Nam
Vịnh Hạ Long :
Tái hiện thắng cảnh nổi tiếng thuộc miền Bắc Việt Nam, đã được UNESCO công nhận là kỳ quan thế giới, với diện tích mặt nước biển là 18ha, sẵn sàng đón tiếp hơn 10.000 khách đến đùa vui cùng sóng nước.
Dãy Ngũ Hành:
Với 5 ngọn núi kề nhau ,cao 60m, dài 250m, đây là núi nhân tạo lớn nhất Việt Nam, được xây dựng theo tích núi Ngũ hành đồng thời mang ý nghĩa tuần hoàn sinh động của vũ trụ với 5 thể trạng vật chất: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, và Thổ. Với ý tưởng ôn lại truyền thống lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ nhằm giáo dục tinh thần yêu nước và ghi nhớ công lao của tổ tiên, nòi giống cho thế hệ trẻ, xuyên suốt chiều dài lòng núi là sự tái hiện lịch sử dân tộc Việt Nam từ thời các vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh vĩ đại.
Cửu Long Giang:
Với mô hình 9 nhánh sông Cửu Long thu nhỏ, du khách sẽ được dịphòa mình vào những sinh hoạt đặc thù của cư dân vùng quê sông nước như đi lại bằng tàu bè, hợp chợ trên sông, hưởng thức những buổi trình diễn đờn ca tài tử Nam Bộ - một loại hình nghệ thuật đặc trưng rất hấp dẫn, đồng thời một ấn tượng khó quên khác sẽ đến với du khách đó là những món ăn thức uống cùng nhiều loại trái cây mang đậm hương vị đặc sản của quê hương miền Tây, tất cả tạo nên nét đặc trưng của xứ sở này
Khu vui chơi, giải trí và dịch vụ du lịch:
Phục vụ khách tham quan bằng nhiều loại hình giải trí và thư giãn từ những trò chơi trí tuệ đến những trò chơi cảm giác mạnh nhằm khai thác, phát huy sự tìm tòi sáng tạo của du khách tạo ấn tượng tốt đẹp cho du khách về chuyến tham quan. Đặc biệt hơn, Thảo cầm viên nơi đây sẽ giới thiệu đến du khách nhiều chủng loại thú thiên nhiên hoang dã. Bên cạnh đó, khối Khách sạn – Nhà hàng phục vụ khách tham quan du lịch với đủ tiện nghi và đa dạng. Bằng lối kiến trúc độc đáo như nhà ẩn trong núi cùng với không gian trong lành sẽ mang đến cho du khách những giờ phút nghỉ ngơi thoải mái, hài lòng.
Khu thắng tích kỳ quan thế giới thu nhỏ :
Đến đây, du khách sẽ được chiêm ngưỡng tháp Eiffel, Cung điện Hoàng gia Capitol, Cung điện Kremlin, Vạn Lý Trường thành, Tử Cấm thành, đền Angkor, v.v … được phục hiện gần như nguyên mẫu.
Đại Nam Quốc tự rộng hơn cả quảng trường Thiên An Môn của Trung Hoa…” Thật vậy, Thiên An Môn được xây dựng từ năm 1417 và trùng tu lại năm 1949 trên một diện tích 440.000 mét vuông. Theo tin tức báo chí thì khu “Đại Nam Thế giới Du lịch” được khởi công xây dựng từ năm 2003. Công trình có tổng số vốn đầu tư là 3.000 tỷ đồng tiền Việt Nam (khoảng 200 triệu đô la Mỹ). Giai đoạn 1 thực hiện đến năm 2007 với 261.000 mét vuông và giai đoạn 2 dự trù hoàn tất vào năm 2010. Tổng thể công trình nghe đâu sẽ là 450.000 mét vuông – rộng hơn quảng trường Thiên An Môn 10 nghìn mét!